Phần tiếp theo của số 6

Khoa Kỷ-dậu, năm Thuận-thiên thứ hai (1429), ngoài ông Triệu-Thái, Trình-thuấn-Du và Phan-phu-Tiên, quyển Đăng khoa lục còn chép tên ông Nguyễn-thiên-Túng, Võ-vĩnh-Trinh, Nguyễn-khắc-Hiếu và Trình-Hiển.

Nguyễn-thiên-Túng, tên tự là Ước-phủ, người huyện Đông-ngàn (Đức-giang), làm trợ giáo ở Quốc-tử-giám, cùng với Nguyễn-thiên-Tích ở Gián-viện (tòa can-ngăn vua), hay nói thẳng. Vua Thái-Tôn (1433-1442) sai xét lại quyển Địa-dư chí của ông Nguyễn-Trãi. Trong bộ Toàn Việt thi lục của ông Lê-quí-Đôn (quyển 9, tờ 28b) còn chép lại mười bốn bài thơ chữ của ông Nguyễn-thiên-Túng, có bài nói về giếng nước (Tỉnh), thả cá (phóng ngư), áo giấy (chỉ-y), có bài đề là Xuân-nhật-tức-sự (ngày xuân tức cảnh), Tầm-dương-vãn bạc (Buổi chiều thuyền đậu bến Tầm-dương),v.v.(chép theo Đại-nam nhất thống chí, Bắc-ninh tỉnh, soạn về đời Tự-đức, sách viết của Bác-cổ, tờ 31b ; Toàn Việt thi lục, q-9, tờ 28b).

Võ-vĩnh-Trinh, tên tự là Hựu-chi, người huyện Thiện-bản (Kiến-hưng), làm quan đến Hàn-lâm-viện đại-học-sĩ, quyền Lễ-bộ hữu-thị-lang, kiêm bí-thư-giám tri kinh-diên-sự. Khoảng năm Quang-thuận (1460-1470) làm tham-tri ở Tuyên-chánh-sứ ty Hải-tây đạo. Có viết bài thơ Châu-sơn, Cổ-pháp lăng, Đăng Yên-phụ sơn, v.v, hiện còn sao trong Toàn Việt thi lục (sách viết của Bác-cổ, số A 1262, q10, tờ 2a).

Nguyễn-khắc-Hiếu, tên tự là Thuấn-thần, người Bình-lục (lý-nhân), làm quan đến Hàn-lâm-viện trực-học-sĩ nhập-thị-kinh-diên. Năm Thái-hoà thứ nhất (1443), nhà Minh sai Quang-lộc tự-thiếu-khanh là Tống-kiệt, Binh-khoa cấp-sự-trung là Tiết-Kiệm sang phong vua Nhân-Tôn (1442-1459) làm vua “An-nam quốc vương”. Lúc sứ Tàu về, vua sai Nội-mật-viện chính-trưởng là Trình-Thanh và Hàn-lâm-viện trực-học-sĩ là Nguyễn-khắc-Hiếu sang tạ việc Sách-phong (Khâm-định Việt-sử, thông giám cương-mục, chính-biên, q17, tờ 26a). Nguyễn-khắc-Hiếu có để lại bốn bài thơ chữ chép trong Toàn Việt thi lục (q9, tờ 16b) : Tùng-đài, Hương-giang dịch, v.v.

Trình-Hiền, người huyện Cổ-hằng (Thái-nguyên), làm Chuyển-vận-sứ, sau làm Thị-ngự-sử. Có viết hai bài thơ đề là Dạ bạc hoa-lư hữu cảm và Ngụ-cư tự-thuật hoài, còn chép trong Toàn Việt thi lục (q.9, tờ 17b)

Năm Thuận-thiên thứ tư (1413), vua Lê thái-Tổ (1418-1433) ngự ở hành-cung Bồ-đề, mở khoa thi “Hoành-từ”, ai trúng tuyển bổ làm ngự-tiền học-sinh (Cương-mục, q-15, tờ 28a). Trong số những ông trúng-tuyển, quyển Đăng-khoa-lục chỉ còn chép có năm ông, là Nguyễn-thiên-Tích, Trình-Thanh, Đặng Huệ-Liên, Chu Tam-Tỉnh và Trần-Phong.

Nguyễn Thiên-Tích, tên tự là Huyền-Khuê, người Nội-duệ (Tiên-du). Năm Thiệu-bình thứ nhất (1443), vâng mệnh làm phó-sứ sang nhà Minh, tạ việc sứ Tàu sang tế. Lúc về thăng Ngự-sử, dự việc giấy má giao thiệp với các nước ngoài. Mùa hè năm Đinh-tị (1437), Tâu hạch Trì-từ-tụng là Trịnh-khắc-Phục, Doanh-giải quản-lĩnh là Lê-Trung về việc ngang trái: vua Thái-Tôn (1433-1442) không xét, Nguyễn-Thiên-Tích xin bãi chức. Sau vua lại vời ra. Thiên-Tích lại tâu hạch Lê-Sát chuyên quyền : Sát phải tội. Mùa đông năm Mậu-ngọ (1438) Thiên-Tích sung làm Cống-bộ phó-sứ, thiên làm Hàn-lâm-viện thị-độc. Mùa đông năm Nhâm tuất (1442) vâng mệnh soạn văn bia lăng Hựu-lăng. Khoảng năm Thái-Hoà (1443-1453) cho làm Nội-mật-viện phó-sứ, bị vu cáo mất chức, sau lại được khởi dụng, làm Hàn-lâm trí-chế-cáo. Vua Thánh-Tôn (1460-1497) lên ngôi phong cho làm Binh-bộ thượng-thư, gặp việc gì cứ nói thẳng không e-lệ. Vua khen rằng : “Họ Vương (Bột) họ Hàn (Dũ) ở đời nhà Đường cũng không hơn”. Sau có việc bị khiển-trách, nhưng rồi lại được phục chức, kiêm Tế-tửu, cai quản trường Quốc-tử-giám. Quyển Lịch-triều hiến-chương của ông Phan Huy-Chú (q-7) khen là “người văn học đắc-dụng, tính nết khảng-khái, sau trước không thay đổi, làm quan bốn triều, đều trọng là người có khí-tiết”. Con là Nguyễn-Kim, đỗ tiến sĩ xuất thân năm Hồng-đức thứ sáu (1475)

(còn nữa)

Ứng-Hòe NGUYỄN-VĂN-TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)