Tiếp theo của phần 2

Ông “đọc quyển” thứ hai về khoa Nhâm-tuất (1442) là thị-lang Trung-thư tỉnh Nguyễn-mộng-Tuấn, người ở Viện-Khê (Đông-sơn). Năm Thái-hòa thứ sáu(1448)giữ chức tả-nạp-ngôn, đi khám-xét biên-thùy, “Lúc bấy giờ ở Đông-đạo nói có sử nhà Minh sang. Vua Nhân-Tôn sai tham tri ở Đông-đạo là Trình-Dục đi trước dò-la. Dục về tâu rằng: khâm sai nhà Minh họp với quan chức ở Quảng đông đem sang nhiều binh-mã. Vua sai tư-khấu là Lê khắc Phục, tả hữu nạp-ngôn là Nguyễn-mộng-Tuấn và Nguyễn-văn Phú, hữu thị-lang là Đào công Soạn, trung thừa là Hà Lật, Tây đạo đồng tri là Nguyễn-thúc-Huế đi ra trước ở biên giới đợi khám-xét. Sai đồng tri ở lộ Nam-sách là Lê-Thiệt lĩnh hơn một vạn quân, họp với quân ở trấn An-bang đi tuần ở biên-thùy. Lại tư sắc cho Đông-đạo sắm-sửa khai quân: trăm họ vì thế bối rối. Kịp lúc đến biên thùy, ở làng tuần hàng tháng không có tin tức gì, sau mua hàng hóa của Tàu trở về, nói dối là nhà Minh sai quan nói về việc khác cho nên không đến”.  (Cương mục, chinh biên, quyển 18, tờ 1 b). Tuy đoạn sử này và đoạn sử trên kia chỉ nói qua đời Nguyễn mộng-Tuân và Triệu-Thái, song cũng nhân thế dịch ra đây, để có tài liệu mà xét những “việc rắc-rối” sẩy ở biên-giới đã gần 500 năm nay. 

Ông “độc quyển” thứ ba là tri-sự Nội-mật viện Trình thuấn-Du Trên mặt bia khắc là “Trần thuấn Du” nhưng xét ra là chữ mới khắc lại vào khoảng Tự-đức. Cương mục và Đăng Khoa lục đều viết là “Trình thuấn Du” Ông là người ở Tân-đội (có sách viết là Tân-hưng, Duy Tiên) đỗ khoa minh-kinh năm Thái-Tổ Thuận thiên thứ hai, là năm 1429. Làm quan đến Tuyên lực đại phu nhập nội hành khiển hàn lâm viện chỉ tri tam quán sự kiêm khu mật viện sự nhập thị kinh diên. Hiệu là Mật liêu (Đăng khoa lục quyển 1, tờ 2 a). Năm Thiệu-bình thứ hai (1435) vua Thái Tôn (1433-1442) ở trong cung hay đùa bỡn với những kẻ hần gần, Các quan đại thần tâu xin lấy lũ Lê

Trãi (xem sự tích Nguyễn Trãi chép ở số trước) và Trình thuấn Du cùng với các đại thần cắt lượt nhau vào trầu kinh diên (nhà sách). Vua giả tờ tấu, không nhận” (Cương mục quyển 16, tờ 26 b)

Ông “đọc quyển” thứ tư là Ông Nguyễn-tử-Tấn (có sách chép là Lý-tử-Tấn). Người Thượng-phúc (Thanh Hóa), đỗ thái- học-sinh nhà Hồ, làm quan nhà Lê đến Hàn-lâm viện học-sĩ, học-vấn uyên-bác, văn-chương điển-trọng, làm tờ chiếu tờ cáo tựa chiếu-cáo đời Hán, làm thơ-phú tra thơ-phú đời Đường. Có soạn bộ Chuyết trai văn-tập Đăng-khoa lục, Hoàng-Việt thi-tuyển và chép sự-tích những người ở làng ông được ra làm quan (theo Đại-Nam nhất thống chí, đời Tự-đức, Hà-nội tỉnh, sách viết bằng chữ nho của Trường Bác cổ, số A 69 tờ 59b).

Bia khoa nhâm-tuất (1442) cũng như bia khoa mậu-thìn (1448), không hề chép đến nguyễn-quán và sự-nghiệp các Ông nghè, chỉ đề tên với phủ huyện mà thôi. Muốn biết rõ, phải tra sách nho, như quyển Đăng Khoa Lục, Lê-triều lịch-khoa tiến-sĩ đề-danh Bia-ký, Lịch-triều hiến-chương loại-chi, Đại-Nam nhất thống chí (đời tự-đức) v.v… Từ trước đến giờ chưa ai tra đến; nay chúng tôi bắt đầu, không khỏi sai-nhầm thiếu thốn; song cũng cố làm đề bổ-cứu cho một đoạn sử nước nhà,

Bia khoa nhâm-tuất (1442) chép ba ông nghè đệ nhất giáp, “ cho làm tốt-sĩ cập-đệ”. Ba Ông ấy là: Nguyễn-Trực (huyện Thanh-oai, phủ Ứng thiên), Nguyễn-như-Đỗ (huyện Thanh trì, phủ Thường-tín), Lương-như-Hộc (huyện Tường-tân, phủ Hạ-hồng)”.

(còn nữa)

Ứng hòe NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)