6 Đào Chính Kỷ

Người xã Thuần-khang, huyện Siêu-loại, phủ Thuận-an. Đỗ đệ nhị giáp tiến-sĩ khoa quí-dậu năm Thái-hòa mười một (1453). Năm Quang-thuận ất-dậu (1466) làm phó-sứ sang nhà Minh cống phương vật. Làm quan đến tham-chính. Là anh Đào-Cử: anh em đồng triều (chép theo Đăng khoa lục, quyển 4, tờ 8b và Đăng khoa bị khảo, Kinh-bắc, tờ 102 a).

7 Lương Phùng Thời 

Người xã Tống-xá, huyện Hiệp-sơn. Hai mươi tám tuổi đỗ đệ nhị giáp tiến-sĩ (1453). Làm quan đến chuyển-vận-sứ. Hiệu là Tùng-giang (Đăng khoa lục, q-1, tờ 8b; Đăng Khoa bị khảo, Hải-dương, từ 95a).

8 Nguyễn Thận 

Người xã Hương-quất, huyện Tứ-kỳ. Đỗ đệ nhị giáp tiến-sĩ (1453). Làm quan đến thượng-thư. Là em Nguyễn Thiện, Nguyễn Tài: huynh đệ đăng khoa (Đăng khoa lục, q.1, tờ 8b, Đăng khoa bị khảo, Hải-dương, từ 42 b) 

9 Đặng Chiêm 

(chép theo Đăng khoa lục, q1, tờ 8b, và Việt sử cương mục, q 20, tờ 25a, còn Đăng khoa bị khảo, thu tập thượng, tờ 75a, thì viết là Đặng Di) 

Người xã Mạo-bồ, huyện Sơn-vi, phủ Lâm-thao. Là dòng-dõi Đặng-Dung, Đặng-Tất về cuối đời nhà Trần, trung-nghĩa có tiếng, nguyên quê ở Thiên-lộc (Nghệ-an): lúc nhà Trần mất, một chi ở xã Mạo-bồ, huyện Sơn-vi, một chi ở xã Sơn-đông, huyện Lập-thạch, đều đỗ-đạt cả. Đặng-Chiêm là anh Đặng-Thẫn và Đặng-Điềm. Sinh ra Đặng-tòng-Củ, Đặng-minh-Khiêm và Đặng- Tán. Đặng-Đôn ở Nghệ-an cũng là con cháu sau. Đặng-Chiêm đỗ đệ-nhị giáp tiến sĩ khoa quí-dậu (1453) năm hai mươi nhăm tuổi. Khoảng năm đinh-hợi, Quang-thuận thứ năm (1464) làm tham-nghị ở Thừa

tuyên-sứ-ty châu Hóa-châu. “Năm Quang-thuận thứ tám (1467) vua Lê Thánh-Tôn (1460-1497) sai các quan ở mười hai thừa-tuyến đi khám xét trong quản, vẽ những nơi sơn-xuyên hiểm-dị, và chua rõ những sự-tích cổ kim, đưa về hộ bộ đề làm Dư-địa-đồ, Tham nghị ty thừa-chính-sử ở Hóa-châu là Đặng-Chiêm dâng sớ tâu năm điều hưng-lợi : một là bảo-thủ cửa bề Tư-dung (ở phía đông-nam huyện Phú-vinh, phủ Thừa-thiên; nhà Lý (1009-1225) gọi là Ô-long, nhà Trần (1225-1400) đổi là Tư-dung, nhà Mạc (1527-1677) đổi là Tư khách, nay là Tư-hiền); hai là lấp Nguyễn-hải-khẩu (ở huyện Hương-trà, phủ Thừa-thiên, nay là cửa bể Thuận-an); ba là mở cửa bể Liên-cừ (thấy chép từ đời Hồ Hán-Thương, năm Khai-đại thứ hai, 1404; Liên-cảng này ở xã Thủy-liên, huyện Lệ-thủy, tỉnh Quảng-bình, chép theo Việt-sử cương-mục, chính-biên, quyển 12, tờ 5b); bốn là bãi nguyên-đầu thuế-sử; năm là chiêu-tập những người lưu-lạo để khai-khẩn những ruộng hoang ở châu Bố-chính” (Việt-sử cương-mục, chính-biên, quyển 20, tờ 25a). 

10 Nguyễn Chỉ 

Người Thanh-oai, phủ Ứng-thiên, Đăng Khoa lục, quyển một, tờ 9a, in là người xã Tả Thanh-oai; Đăng khoa bị khảo (sách viết của Bác-cổ, số A 485, Sơn-nam, tờ 32b) thì viết là Hữu Thanh-oai. Đỗ nhị giáp tiến-sĩ (hội-nguyên) khoa quí-dậu (1433), làm đến đô-cấp-sự-trung bá-tước.

(Còn nữa)

Ứng hòe-NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)