Ông Đỗ-Nhuận soạn bài văn bia đề tên tiến-sĩ khoa mậu-thìn năm Thái-hòa thứ sáu (1448) là người làng Kim hoa, huyện Kim-hoa (Kim-anh). Hai-mươi-hai tuổi đỗ đồng tiền sĩ khoa bính-tuất năm Quang Thuận thứ bảy (1466) Mùa thu năm mậu-tí (1468), vua Lê Thánh Tôn (1460-1497) đi chơi Lam-kinh, ông Đỗ-Nhuận theo hộ giá, vâng mệnh họa Anh-hoa hiếu trị thi-tập. Năm Hồng-đức tân-mão (1471) thăng Đông-các hiệu thư. Mùa đông năm quí-mão (1483) cùng với Thân-nhân. Trung toản-tập bộ Thiên-nam dư hạp tập. Hồi bấy giờ vua Thánh-Tôn tự gọi là Tao-đàn đô-nguyên-súy, lấy hai ông họ Thân họ Đỗ làm phó-nguyên-súy: phàm những thơ của vua và bày-tôi thù-phụng đều phê-bình hết. Vua rất tin dùng ông Nhuận, thường đem vào chầu trong cung bàn đạo-lý thiên-văn, quần-thần không ai được dự. Năm quí-sửu (1493) thăng Hàn-lâm viện thị-độc, kiêm Đông-các đại-học-sĩ, Lễ-bộ thượng thư: lúc bấy giờ bốn mươi-tám tuổi. Mùa đông năm ất-mão (1495), vàng mệnh họa tập thơ Quỳnh-uyển cửu-ca cùng với ông Thân-nhân-Trung; hai ông có tiếng ngang nhau, người ta thường gọi “họ Thân, họ Đỗ” (đương-thời xưng vi Thân Đỗ). Quyển Toàn-Việt thi-lục (q.11, tờ 13a, sách viết của Trường Bác cổ số A 1262) của ông Lê-quí-Đôn khen rằng:  “Văn-chương điển-thực, nhời thơ thanh-nhã”, trong có chép 12 bài cận thể, như bài Tư gia tướng-sĩ (quan quân nhớ nhà), Du Lục-vân động (đi chơi động Lục-vân), v. v. (chép theo quyển Lịch-triều hiến chương loại chi của ông Phan Huy-Chú, q.7, Toàn-Việt thi-lục của ông Lê-quí-Đôn, q. 11, tờ 13-16 a, Khâm-định Việt-sử thông giám cương-mục, q.21, tờ 12a; Đại-nam nhất-thống chí, soạn về đời Tự-đức, Bắc-ninh tỉnh, sách viết của trường Bác-cổ số A69, tờ 32a). 

Bia khoa mậu-thìn (1448) chép hội-đồng chấm thi có ông Trịnh Khắc-Phục, Hà-Lật, Nguyễn-mộng Tuân, Trần-thuấn-Du và Nguyễn-tử-Tấn.

Ông Trịnh-khắc-Phục (xem Tri-lân, số 27, trang 9) là người huyện Lôi-dương. cháu Hiển Từ hoàng-thái-hậu. Vua Lê ban cho quốc-tính, nên Cương mục (q.18, tờ 1b) và Đại-nam nhất thống chí (Thanh-hóa tỉnh, tờ 47b) đều chép là Lê-khắc phục, Ông Phục theo vua Lê Thái-Tổ (1418-1433) khởi nghĩa, thường lập công đánh dẹp. Năm Thuận-thiên (1428), được phong làm công thần, lúc mất tặng làm Thái-úy, An quốc-công. 

Còn ông Hà-Lật, thì chỉ thấy chép trong Cương mục (q.18, tờ 1b; xem Tri-tân, số 27, trang 9) làm trung thừa khoảng năm Thái-hòa thứ sáu (1448).

Ông Nguyễn-mộng-Tuân, tên tự là Văn-nhược, hiệu là Cuc pha, người Đông-sơn (Thanh-hóa ), đỗ thời nhuận Hồ (1 400-1407). Lúc mới yết-kiến vua Lê Thái-Tổ (1418-1433) ở nơi hành-tại, vì có văn-học được vua tin dùng. Triều vua Thái-tôn (1433-1442) ,làm quan Thủ-trung thư-lệnh. Triều vua Nhân-tôn (1442-1459) lúc đầu, cùng với Bình thường là Lê Thụ đi đánh Chiêm-thành Lúc về, làm Tả-nạp-ngôn tri Bắc-đạo quân-dân, rồi thăng Vinh lộc đại phu, làm Khinh xa đô-úy. Ông Lê-quí-Đôn phê rằng: “Thơ văn bình-dị, không có nhời thê-thảm. Kẻ học-giả đều tôn-trọng” (Toàn Việt thi dục, q.8, tờ 1a). Trong bộ Toàn-Việt thi tập (q.8, tờ 1-32) còn chép 143 bài thơ cận-thể của Ông Nguyễn-mộng-Tuân, như bài Hàm-tử quan, Đề Hoa-lư động, Bồng-nga mộ, Phục độc Lam-sơn thực-lục, v.v.

Ông Trình-thuấn-Du, hiệu là Mật-liêu, người ở Tân-đội (Duy tiên). Nguyên họ Trần, tránh quốc huy đồi là Trịnh, đỗ khoa “ minh-kinh” năm Thuận-thiên thứ hai (1429). Vua cho làm Ngự sử, sang sứ nhà Minh. Mãi đến năm Thiệu bình thứ nhất (1434) mới về, được làm Trung thư thị-lang. Ông Lê-quí-Đôn chép rằng: “Văn chương học hành gần bằng Nguyễn-Trãi” Khoảng năm Thái-hòa (1443-1453), thăng làm Nhập-nội hành-khiển, Hàn-Tâm thừa-chỉ học-sĩ, kiêm Tri nội mật-viện sự, Nhập-thị kinh-diên, tri tam quán sự, cùng với tả-nạp ngôn là Nguyễn-nghiên-Tư (Kỳ sau sẽ nói) là hai văn-học đương-thời bấy giờ, phàm chế, sách, chiếu, cáo, phần nhiều làm cả, Trong tập Toàn-Việt thi-lục (97, tờ 42b – 43b) có bốn bài thơ cận thể đề là Hạ tiêp (Mừng được trân).

(Còn nữa)

Ứng hòe NGUYỄN VĂN TỐ 

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)