Ngày thứ năm, 30 Octobre 1941, nhân có buổi họp ở Hội truyền-bá quốc-ngữ, tôi có đem chiếu một ít kính ảnh của Trường Bác-cổ chụp ở Văn-miếu Hà-nội, là nhà Thái-học ngày xưa, để nói chuyện với các giáo-viên trong hội về việc học ở đời Hậu-Lê (1428-1789).

Trong số kính đem ra chiếu, có một chiếc chụp trên tài bay, từ cổng Văn-miếu đến điện Khải-thánh, gồm cả cửa Đại-trung (tức là Đại-học và Trung-dung), lầu Khuê-văn, giếng Thiên-quang, điện Đại-thành : cách bố-trí y như miếu Khúc-phụ (Lỗ-huyện), tỉnh Sơn-đông, là nơi còn phần-mộ và miếu-đình của đức Khổng.

Tôi có cho chiếu cả ảnh chụp những tấm bia dựng hai bên giếng Thiên-quang, và có nói cho các bạn trong Hội Truyền-bá  biết rằng hiện có tám mươi hai tấm bia, đề tên 1.111 ông nghè, trên tự năm Thái-bảo nhâm-tuất (1442), dưới đến năm Cảnh-hưng kỷ-hợi (1779).

Theo bào bia của ông Lê-hữu-Thanh, bố-chánh Hà-nội năm Tự-đức mười sáu (1863) (bia thứ 43, bên hữu, đình thứ ba), thì “82 mặt bia ấy, chỉ là nghìn phần còn trăm, mười phần còn một : gió táp mưa trôi, cỏ che rêu mọc, chữ khắc mờ phẳng, mất độ mười mặt… Cái gì có hình hẳn có hoại, phương-chi là cái bia !”

Các bạn trong Hội Truyền-bá nhân câu ấy (Hữu hình tất hữu hoại, nhi huống ư bi hồ), bảo tôi nên đem bia Văn-miếu ra khảo-cứu để bổ khuyết một đoạn lịch-sử nước nhà. Lúc bấy giờ tôi còn ngần-ngại chưa dám quyết, vì tự biết rằng muốn làm cho chu-đáo, không những phải in ảnh bia, sao nguyên-văn và dịch ra tiếng nôm, lại còn phải tra cứu các sách nói về đời Hậu-Lê. Tuy chưa có thể làm đúng cái chương-trình ấy, song tôi tưởng cũng nên theo ý các bạn đồng-chí bắt đầu sưu-tập, kẻo lâu ngày mai-một đi chăng. Vậy xin lần-lượt xét hết cả 82 cái bia dựng ở sân miếu.

 Cái bia cũ nhất đề tên các tiến-sĩ khoa nhâm-tuất năm Đại-bảo thứ ba (1442). tên chữ là Đại-bảo tam niên nhâm-tuất khoa, tiến-sĩ đề danh ký. Nguyên-văn chữ nho dịch ra như sau này :

“Thánh-triều Thái-tổ  Cao-hoàng-đế (1428-1433), giời cho trí dũng, nghiệp thịnh kinh-luân, bỏ kẻ bạo, trừ kẻ tàn, cứu dân ở chỗ lầm than,sửa-sang việc văn việc võ, chiêu-tập những kẻ tuấn-mao để làm cho thành-hiệu việc cai trị mới, chiếu trong thiên-hạ dựng nhà học để đào-tạo nhân-tài, trong có trường Quốc-tử-giám, ngoài có nhà học các phủ.

“Vua thân kén con cháu nhà quan cùng những người dân thường tuấn-tú cho vào làm học-sinh thị-cận, thị-ngự-tiền, mọi cục, và làm giám-sinh ở Quốc-tử-giám. Lại sai hữu-tư rộng kén những lương-gia tử-đệ ở dân-gian, sung làm sinh-đồ các phủ, đặt thày nho-học để dạy bảo, khắc sách-vở để ban-bố : đường đất nuôi nhân tài, thực đã rộng vậy (1).

“Còn việc thi lấy học-trò, hoặc dùng kinh-minh, hoặc dùng phú luận, hoặc vua hỏi sách đề, đều tuỳ tài đặc ân bổ dụng.

“Đương lúc bấy giờ, khoa tiến-sỹ tuy chưa dựng (ở nước ta), nhưng mà kỳ thực chuộng đạo nho, cách lấy học-trò đại-khái đã đủ (2) ; mở nền thái-bình muôn đời chính ở đấy.

“Đức Thái-Tôn Văn-hoàng-đế (1433-1442) nối nghiệp nhớn, tỏ sự vẻ-vang đời trước, lấy văn-học mà giáo-hoá thiên hạ, lấy sự trọng đạo chuộng nho làm việc đầu, lấy việc tìm người giỏi kính giời làm mưu tốt ; nên cách cai trị trước hết phải mở khoa thi, chọn học-trò giỏi và ban đồ phủ-phất của nhà vua : Khoáng-trương nền tiến-hoá là ở đấy ; sửa-sang chính-sự, làm cho dân có những phong-tục tốt cũng ở đấy. Các bậc đế-vương xưa kia làm thành-hiệu được việc cai-trị, chẳng bởi đấy hay sao ?

Đức Thánh-tổ Hoàng-đế đã định qui-mô, nhưng chửa kịp thi-dụng : muốn sáng-sủa đời trước, phấn-trấn đời sau, thì hồi bấy giờ là năm Đại-bảo thứ ba (1442), tức là năm nhâm-tuất, có rộng mở kỳ thi hội về mùa xuân (gọi là xuân-vi). Lúc ấy nhiều học-trò ứng-cử, tính tới 450 người. Trúng tứ trường được 33 người : hữu-tư (là người coi việc)  danh-sách dâng vua. Vua sai chọn ngày cho vào đình đối.

“Khoa thi ấy, quan đề-điện là thượng-thư tả-bộc-sạ Lê-văn-Linh, quan giám-thí là ngự-sử-đài thị-ngự-sử Triệu-Thái. Các quan tuần-sước, thu-quyển, di-phong, đằng-lục, đối-độc,người nào làm việc ấy.

“Mồng hai tháng hai, vua ngự ở điện Hội-anh, thân ra sách-hỏi ; hôm sau các quan đọc quyển là hàn-lâm-viện thừa-chỉ học-sĩ kiêm trung-thư quốc-sử-sự Nguyễn-Trãi, trung-thư tỉnh trung-thư thị-lang Nguyễn-mộng-Tuân, nội-mật-viện tri-viện-sự Trần-thuấn-Du, quốc-tử-giám bác-sĩ Nguyễn-tử-Tấn, vâng mang quyển lên đọc, dâng bày vua xem, cho thứ-bực cao thấp,  Nguyễn-Trực trạng-nguyên, Nguyễn-như-Đồ bảng-nhỡn, Lương-như-Hộc thám-hoa. Lũ Trần-văn-Huy bảy tên tiến-sỹ. Lũ Ngô-sĩ-Liên hai-mươi-ba tên phụ-bảng (theo tên đời trước gọi là phụ-bảng).

“Mồng ba tháng ba, xướng danh treo bảng, làm cho nhiều học-trò quan-chiêm vui-vẻ. Ân-mệnh tước-trật để tiêu-biểu, mũ-đại y-phục  để phấn-sức, cho ăn yến ở vườn Quỳnh-lâm tỏ ơn từ-huệ, cho ngựa đưa về tỏ ý quyến-luyến. Những sĩ-phu ở chốn Tràng-an, họp nhau đến chỗ này xem, đều mừng thánh-thượng sùng nho, xưa nay ít có.

“Mồng bốn lũ trạng-nguyên Nguyễn-Trực dâng biểu tạ ơn. Mồng chín từ biệt bệ-hạ để vinh quy.

“Đó là cái kết quả tốt về khoa đầu của thánh-thế gia ơn, làm cho sĩ phu được vẻ-vang. Đến nay, nhiều học trò vẫn còn khen-ngợi. Tự bấy giờ về sau thánh-nối thần truyền, đều theo phép cũ.

“Bây giờ Hoàng-thượng (Lê-Thánh-Tôn, 1460-1497) trung-hưng nghiệp lớn, rộng mở văn học, chế độ đều mới : ai ai cũng tai nghe mắt thấy. Đến như phép lấy học-trò, lại càng chú-ý lắm : phàm tiên-triều đã làm việc gì, thì theo mà giữ gìn ; việc gì tiên-triều chưa làm thì thêm ra cho rộng-rãi. Sau khi gọi loa yết bảng, lại còn dựng bia đá đề tên để truyền lâu dài, khuyên phép hay ý tốt, như thế không gì hơn nữa. Ôi ! thịnh vậy !

“Từ năm Đại-bảo thứ ba (1442) đến giờ, việc dựng bia đá đề khoa tiến-sĩ vẫn chưa làm. Thượng-thư bộ Lễ là lũ Quách-đình-Bảo, kính vâng mệnh vua, theo thứ-tự tên họ, khắc vào đá tốt, và xin đổi trạng-nguyên, bảng-nhỡn, thám-hoa làm tiến-sĩ, cập-đệ, phụ-bảng làm đồng-tiến-sĩ xuất-thân, để hợp cách ngày nay. Vua cho là phải, sai chúng tôi là lũ Thân-nhân-Trung chia soạn văn ký. Kẻ thần-hạ chúng tôi kính vâng đức-âm, hân-hạnh nhường nào ! Xem việc lập bia đá đủ biết cái thịnh-ý của nhà vua cầu người hiền để lo việc nước và truyền được lâu dài. Việc lập bia là một việc nhớn để khuyên đời và là một sự rất may cho nền văn-học. Kẻ thần-hạ chúng tôi tuy dốt-nát nhưng đâu dám từ chối, xin kính-trọng chắp tay cúi đầu mà soạn bài ký.

“Hiền tài là nguyên-khí của nhà nước : nguyên-khí thịnh thì thế nước mạnh mà thịnh ; nguyên khí không đủ thì thế nước yếu mà ô nhục. Vì thế các bậc thánh-đế minh-vương đều lấy sự kén nhân-tài, lấy học-trò giỏi làm việc vun-giồng nguyên-khí ; bởi những người học-trò ấy có quan hệ đến nhà nước, cho nên ý sùng-thượng trọng-vọng không có chừng nào như thế, nào đã yêu cho khoa-danh, lại trọng cho tước-trật, ơn rất đằm-thắm, còn cho là chưa đủ, lại nêu đề ở tháp nhạn, phong cho hiệu rồng-hổ. Triều đình được người giỏi, mở tiệc mừng, không một việc gì là không trọng-hậu.

“Vừa nay thánh-minh lại cho việc thi là một cảnh mỹ-quan thịnh-sự, tuy rực-rỡ một thời, lưu-truyền tiếng thơm, nhưng chưa đủ rõ-rệt lâu dài, cho nên lại dựng bia đá đề tên, đặt ở cửa những bậc hiền-triết, khiến cho nhiều học-trò trông thấy, hâm-mộ hưng-khởi, chuộng nghiêm danh-tiết, gắng giúp nhà vua, há chỉ chuộng việc hư-danh hư-văn mà thôi ? Ôi ! những học-trò nhà có lều tranh, như một mảy rất nhỏ, mà được triều-đình sùng-chuộng như thế, thì trí làm học-trò nên tự-trọng mà lo toan báo đền. Đây hãy lấy họ tên một khoa mà bày kể.

“Những người có văn-học -sự làm đẹp-đẽ cho nền bình-trị, vào mươi năm nay đã được nhà nước dùng nhiều. Thỉnh-thoảng có người vì ăn lót mà hỏng, hoặc mắc vao bọn gian nhũng, bởi vì bình-sinh chưa được thấy phiến đá tốt này bao giờ ; giả-sử đương-thời mà mắt họ trông thấy, thì lòng thiện vui, lòng ác bèn thôi, đâu dám có mầm ác ấy ? Thế thì việc dựng bia đá này, bổ-ích rất nhiều : người ác sẽ nên lấy làm trừng-giới, người thiện nên lấy làm khuyến-khích, chứng rõ việc đã qua, rộng bảo về tương-lai, một là giúp cho nhiều học-trò trọng danh-tiết như đá, hai là giúp mệnh-mạch nhà nước cho vững-bền. Bậc thánh-thần đặt ra, ý rất sâu-xa ; phàm việc gì cũng muốn để cho người ta quan-chiêm vào, có phải là việc cẩu-thả đâu ? Thận-hạ chúng tôi kính chép.

“Phụng-trực đại-phu, Hàn-lâm viện thừa-chỉ, Đông-các đại-học sĩ Thân-nhân. Trung-phụng sắc soạn. –Cẩn-sữ-lang trung-thư-giám chính-tự Nguyễn-Tùng phụng sắc viết — Mậu-lâm-lang kim-quang-môn đãi-chiếu Tô-Ngại phụng sắc triện.

“Bia dựng ngày rằm tháng tám, năm Hồng-đức thứ mười năm (1484) vua nước Việt.”

Ông Thân-Nhân-Trung, làm ra bài bia dịch trên, là người ở Yên-ninh (yên-dũng). Hơn 50 tuổi mới đỗ hội-nguyên khoa kỷ-sửu, năm Quang-thuận thứ mười (1469) đình-thí đỗ đồng-tiến-sĩ. Làm Hàn-lâm viện thị tộc, rồi làm Đông-các đại-học-sĩ, sau thăng Hàn-lâm viện thừa-chỉ,  kiêm Đông-các và Quốc -tử  tế-tửu. Năm Hồng-đức quí-mão (1483) cùng ông Quách-Đình-Bảo và ông Đỗ-Nhuận vâng mệnh vua Lê Thánh-Tôn biên chép bộ Thiên-nam dư-hạ tập  và hoạ theo tập Quỳnh-uyển cửu-ca của vua. Vua gọi là “Tao-đàn đô-nguyên-suý”, cho thăng Lai-bộ thượng-thư, kiêm Hàn-lâm viện nhập-thị-nội phụ-chính, kiêm Đông-các như cũ. Thọ hơn tám mươi tuổi. Chữ nghĩa điền-nhã hồn-hậu, không hề làm một việc gì dối trá, chỉ lấy cách vật trí-tri làm vui. Con là Nhân-Tín Nhân-Võ cùng thời hiển đạt. Vua Lê-Thánh-Tôn thường ban thơ, có câu rằng : “Nhị Thân phụ tử mộc ân vinh”, nghĩa là hai cha con họ Thân thấm ơn vinh hiển (xuất xứ ở Lịch triều hiến chương loại chí của ông Phan Huy-Chú, quyển 7, Nhân-vật-chí)

Kỳ sau sẽ đăng danh sách những ông nghè khoa Đại-bảo.

Ứng-hòe NGUYỄN-VĂN-TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)