Khoa học trong văn chương ta 

Có một điều đáng chú ý là trong năm vừa qua vì những cuộc chiến tranh sẩy ra ở gần ta chúng ta phải sống với bao nhiêu sự thiếu thốn. Chúng tà thiếu dầu săng, dầu hỏa, thiếu vải, gang, ngòi bút, mà không thấy một dấu vết rõ rệt trong văn chương.

Ngoài những tờ báo tập sách mà ta hiện có của Trường kỹ nghệ Hanoi, ta không được thấy gì hơn nữa.

Một điều tỏ cho chúng ta biết rằng người mình, dù thời cục thay đổi, cuộc đời kinh tế của ta thay đổi, ta vẫn không biết trọng khoa học, một điều kiện của sự tiến hóa của mình.

Ta vẫn có cái quan niệm sai lầm là văn chương phải là cái gì vô ích, đã có ích là không phải văn chương nữa. Văn chương phải được dùng để phụng sự những mộng tưởng, những tình cam ở ngoài cuộc đời sống hằng ngày. Biết bao giờ ta mới có được những quyển sách về kinh tế về kỹ nghệ v. v…  Những Quyển sách ấy còn thiếu trong văn chương ta, nền kinh tế xứ ta chưa thể hưng thịnh được. 

So sánh số sách báo xuất bản

Chúng tôi tiếc chưa đủ tài liệu để có thể hiến bạn đọc một bản thống kê; dưới đây là số sách báo xuất bản ở ba kỳ ta trong sáu tháng đầu năm vừa qua: 

Báo và tạp chí xuất bản ở Trung-kỳ: 3; Báo và tạp-chi xuất bản ở Nam-kỳ: 13 ; Báo và tạp chí xuất bản Bắc-kỳ: 21 Tổng-cộng: 37;  Cũng thời kỳ ấy năm 1940: 31; Năm 1941 hơn năm 1940: 6 tờ ; Sách xuất bản ở Trung kỳ: 17 ; Sách xuất bản ở Nam kỳ: 28;  Sách xuất bản ở Bắc kỳ: 112;  Tổng cộng: 157; Cũng thời kỳ ấy năm 1940: 196 ; Năm 1941 kém năm 1940: 39 cuốn

Nhìn qua bản thống kê, ta có thể nói rằng về lượng năm vừa qua kém năm 1940.  Ta chớ vội thấy vậy mà bi quan; Tôi nhận ở đấy một lẽ đáng mừng, năm vừa qua ít những sách nhảm nhí bán rẻ tiền in ra có một mục đích trục lợi và đầu độc những bộ óc chưa đủ tuổi để suy nghĩ. 

Đã đến lúc nhà văn thứ nhất là nhà xuất bản ta biết rằng một Quyển sách ném ra xã hội, sẽ là một viên gạch xây cái xã hội tương lai hay là một gói thuốc nổ phá hoại chính cái xã hội ấy,

Nhìn về phẩm…

Những cuốn sách đáng chú ý (1)

Từ ngữ học

Việt-Nam văn-phạm của ô. Trần trọng-Kim (với sự giúp sức của các ông Bùi-kỷ và Phạm-duy Khiêm) vừa xuất bản đã đánh một dấu quan trọng trong lịch sử văn. học Việt-Nam. 

Như ông Trần-trọng-Kim đã cho chúng tôi biết trong một cuộc phỏng-vấn (2), ông chỉ mới làm cái công việc phá một cái rừng hoang để dọn một con đường nhỏ cho người sau này. Chúng tôi cũng công nhận thế, và cái giá trị của cuốn sách một phần là ở đây. 

Trên từng trang, chúng tôi đã nhận thấy bao nhiêu nỗ lực và bao nhiêu sự khó khăn vượt được.

Từ việc chọn những danh-từ mới cần dùng để chỉ những tiếng, tiếng từ xưa đến nay chưa nói đến, hoặc nói đến bằng một thứ tiếng ngoại-quốc; tìm những tiếng nào cho không có vẻ cầu kỳ nhưng gọn và dễ nhớ…

Cho đến việc chia-loại hợp với tính cách khoa-học nhưng không nô-lệ một văn phạm đã có; không bắt chước tiếng Tàu chia thành hư-tự thực tự v. v. vì giản-dị quá, không soạn theo văn phạm pháp-ngữ một cách ngây ngô như từ trước người ta đã làm. Giữ thế nào cho tiếng mình vẫn còn là tiếng mình với cái tinh-thần riêng của nó.

Chúng tôi không dám nói đây là một cuốn văn-phạm hoàn toàn, nhưng nói riêng về cái giá trị tương đối và tuyệt đối nó đáng cho liệt vào hạng những cuốn sách quí.

Những cuốn khác: Dạng bản văn-pháp của Đào-duy-Anh

Lịch sử và văn học sử

Nguyễn Trãi: Quyển danh-nhân truyện-ký thứ hai của ông Trúc-Khê. Cũng như quyển Cao-bá-Quát, quyển Nguyễn-Trãi có nhiều tài-liệu rất quý tìm được trong bao nhiêu bộ sử của ta. Những tài-liệu ấy được trình bày bằng một nghệ-thuật chắc chắn. Một tác-phẩm đáng sắp trong ngăn sách có giá-trị của mình,

Những Quyển khác:

Lược khảo về khoa cử Việt-nam của Ô. Trần Văn Giáp, Sử học đính ngoa của Ô. Lê văn Hòe.

Phê bình và cảo luận

Thi văn bình chú: Có thể xếp vào ngăn sách phê bình tập Thi văn bình chú của Ô. Ngô-tất-Tố.

Mục đích tác giả là chọn lọc trong cái di-sản văn học nước nhà từ thế kỷ thứ 15 đến thế-kỷ 19 – Lê-Mạt ! Tây-sơn – lấy những thơ văn quốc âm có giá-trị, đem chủ giải và phê-bình. Chủ-giải đề cho người không có Hán học hiểu được “thể-tài, điển tích và tính chất của các bài chịu ảnh hưởng Hán học”. Phê-bình, định lại giá trị của từng câu, từng bài.

Giữa lúc chúng ta đã biết trở lại với cái “tinh hoa trong mấy nghìn năm của dân tộc mình”, nhưng vì sau bao lâu quên lãng, chúng ta bỡ ngỡ trước cái tinh hoa ấy, giá-trị một cuốn sách như Thi văn bình chú không phải là mỏng vậy.

Những cuốn khác: Vũ trọng Phụng do Lan-Khai. Thời thế và văn chương của Hoàng ngọc Phách. Đâu là chân lý của Hoàng ngọc Phách

Tiểu thuyết

Bướm trắng (của Nhật-linh) Đây là tiểu-thuyết một thanh-niên mắc một bệnh nan-y, còn một ngày sống là một ngày chờ cái chết.

Buồn cho thanh-niên ấy là lúc biết rằng đời mình sắp tắt lại là lúc thấy trong tim mới bắt đầu một tình yêu.

“Anh chắc-chia sẽ chết ngay trong một lúc anh được biết chắc chắn rằng em yêu anh. Còn gì khổ cho anh hơn. Anh nghĩ không gì hơn là xa em ra. Độ ấy anh đã được xa em. Nhưng anh đã chịu bao nhiêu đau khổ để có thể xa được em và cũng từ lúc xa em là lúc Anh bắt đầu ‘chết’ .

Vì không cần gì nữa, anh đã tự ý phá hủy đời anh. Anh bỏ học và có bao nhiêu tiền anh đem phung-phí hết trong các cuộc vui. Anh có thích gì đâu! Nhưng không lẽ cứ chịu ngồi đấy đợi cái chết đến. Ngồi yên cũng không thể được. Anh chỉ có một thân một mình, anh không biết lấy ai để an-ủi. Có em, có mình em thôi, nhưng lại phải xa em ra, cố làm cho em ghét anh. 

Bây giờ anh mới thấy chơi bời liều-lĩnh như vậy là vô lý, là dại dột vô cùng. Nhưng hồi đó, biết mình chắc chết nên công việc ấy tự nhiên lắm. Phải thế không thể khác được, chơi bời đủ mọi cách nhưng anh chỉ thấy chán nản, thấy đau khổ đến nỗi về sau anh lại mong cái chết đến, đến thật mau để anh khỏi phải chịu khổ như thế mãi. Giá mà không có em !”

Mấy câu trích trong một bức thư gửi cho người yêu đã phác tất cả những hành động trái ngược của thanh-niên ấy.

Đứng về phương-diện nghệ-thuật – tôi nhắc lại, về phương-diện nghệ-thuật – Bướm trắng của Nhật Linh đáng đặt lên trên mọi tiểu-thuyết xuất-bản năm vừa rồi.

Lều chõng (Ngô Tất Tố): Đội lốt một tiểu-thuyết, Lều Chống chỉ là một tập ảnh, chiếc nọ xếp lên chiếc kia, mà tác-giả đã giữ được của thời-đại khoa-cử.

Những cảnh ông nghè vinh-quy, trẻ con mũi còn thò-lò xanh mà đi có bộ dạng những nhà triết-lý đến trường ngâm-nga những tư-tưởng của thánh-hiền, thí-sinh sửa-soạn lên trường thi, miên-man trong nhà cô-đầu, giãi-dầm mưa gió, buồn, tuyệt-vọng, … những cảnh trang-nghiêm của một tiệc vua ban mừng người trúng tuyển ..

Bằng một lối văn dản-dị, có lúc dản-dị quá. Tác giả đã nhắc lại đời sống khi vinh, khi nhục của một thí-sinh, hay nói cho đúng cái mộng tuởng của một thí-sinh:

Ông Nghệ Long sau gần nửa đời người chỉ được nghiền-ngẫm kinh nghĩa thơ phú, ra đời phải làm những công việc không hợp với tài. trí xu-hướng; gần nửa đời xây dựng khi tưởng đã xong thì lại là lúc bắt đầu sống một cuộc đời mới có những nhu-cầu mới về trí thức và kinh-nghiệm, cái học-vấn đã dày công lĩnh-hội chỉ là cái học-vấn không còn giá-trị thực dụng.

Vân-Hạc sau bao phen điêu đứng nơi trường thi, trải bao gian-nan, đã tưởng sắp được trông thấy cái kết quả rực-rỡ mà chàng, gia đình.

Ông Ngô tất Tố, nếu chỉ có mục-đích là phơi cái hư không của nền học ta ngày xưa, tưởng ông đã đạt được một cách vẻ- vang.

Người anh cả (Lê văn Trương): Ngoài những tập sách chúng tội vừa nói và sẽ nói trong mục này. có một tiểu-thuyết đáng chú ý đến trong một tạp-chí văn-chương Người anh cả.

Chuyện một người anh thay cha mất sớm làm cái trụ thạch của gia đình, gây dựng cho một đàn em nên người có địa vị trong xã-hội. Bao nhiêu sự hi-sinh, bao nhiêu sự cực khổ, rút cục lại để đổi lấy sự hờ hững của các em.

Cốt truyện dựng rất khéo, làm cho người đọc nhiều lúc phải cảm động.

Một điều đáng chú ý là trong Người anh cả cũng như trong phần nhiều những tiểu thuyết khác của ông Lô văn-Trương, là sáng tác ra một hạng người gần như lý tưởng, có những hành động đáng để cho mọi người theo. Vì vậy đọc tiểu thuyết của ông xong, đặt sách xuống, người ta thấy tâm hồn như sáng sủa trí phấn đấu của mình mạnh mẽ hơn. 

Đã hai năm nay, người ta nói đến sự “làm lại xã-hội” sự “gây cho người mình một tinh thần mới” sứng đáng với những trách nhiệm mới của mình. 

Nếu những công việc ấy đã có một kết quả, tôi thiết tưởng một phần nhờ loại sách báo đứng đắn.

Trong số ấy ta có thể kể tiếp thuyết Người anh cả. Riêng về phương diện này, nó đáng được có một chỗ trong mọi tủ sách gia-đình. 

Những Quyển khác: Hạnh (truyện dài), Những ngày vui, Đội mũ lệch (truyện ngắn), Đẹp (truyện dài) của Khải Hưng. Một kiếp đọa đày của Trường tửu. Chiếc cánh xanh của Lưu trọng Lư. Bảy hựu (truyện ngắn), của Nguyên Hồng. Những ngày thơ ấu (truyện dài), Chồng con (truyện dài) của Trần-tiêu. Quê mẹ (truyện ngắn) của Thanh Tịnh. Trại bồ tùng linh(truyện dài) của Thế-lữ. Mực mài nước mắt của Lan Khai. U-uất (tiểu thuyết) của Thiều-quang. Ngoại ô của nguyễn đình-Lạp . Người bạn gái  (tiểu thuyết) của Thiền Sơn (đã phê bình trong Tri tân số 29). Chiếc lư đồng mắt cua của Nguyễn Tuân

Du ký phóng sự Một chuyến đi của Nguyễn Tuân. Tùy bút của Nguyễn Tuân 

(còn nữa)

LÊ THANH

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

 1.) Trong khuôn khô trật hẹp của tờ báo chúng tôi không thể nói một cách đầy đủ và tất cả những sách đáng chú ý . Chúng tôi sẽ trở lại trong một cuốn sách đang soạn. 

2) Một giờ với ông Trần Trọng Kim: Đọc Tri-tân số 6