Một xã-hội suốt mấy nghìn năm kéo dài một cuộc sống gần như không thay đổi về hình-thức cũng như về tinh-thần. Triều-đại tuy bao lần hưng vong, giang-sơn tuy bao lần đổi chủ, song mọi cuộc biến-cố về chính-trị ít khi ba động đến sự sống của nhân-dân. Từ đời này sang đời khác, đại khái chỉ có bấy nhiêu tập tục, bấy nhiêu ý-nghĩ, bấy nhiêu tin-tưởng, cho đến những nỗi yêu, ghét, vui, buồn cơ hồ cũng nằm yên trong những khuôn khổ nhất định.  Thời gian ở đây đã ngừng lại và người ta chỉ sống trong không-gian.

Nhưng nhất đán một cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến. Cả nền-tảng xưa bị một phen điên-đảo, lung-lay. Sự gặp-gỡ phương Tây là cuộc biến-thiên lớn nhất trong lịch-sử Việt-nam từ mấy mươi thế kỷ. Phải trở lại cái thời tổ-tiên ta mới tiếp-xúc với người Trung-hoa, hơn nữa phải trở lại cái thời giống người Anh-đô-nê-điêng (1) lần thứ nhất để chân vào lưu-vực sông Hồng-hà mới hòng tìm được một cuộc biến-thiên quan trọng như vậy.

Trước mắt chúng ta bỗng bày ra những cảnh lạ-lùng chưa bao giờ từng thấy, phương Tây đã đến với chúng ta. Nó là một sự thực. Một sự thực càng ngày càng thực thêm.

Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây. Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp…còn gì nữa ! Nói làm sao cho xiết những điều thay đổi về vật-chất phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta ! Cho đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình ngày trước. Nào dầu tây, diêm tây, vải tây, chỉ tây, kim tây, đinh tây. Đừng tưởng tôi nguỵ biện. Một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan-niệm của phương Tây về nhân-sinh, về vũ trụ và có ngày ta sẽ thấy thay đổi cả quan-niệm của phương Đông. Những đồ dùng kiểu mới ấy chính đã dẫn đường cho tư-tưởng mới. Trong công-cuộc duy-tân, ảnh-hưởng của nó ít ra cũng ngang với ảnh-hưởng những sách nghị-luận của hiền-triết Âu-Mỹ, cùng những sách cổ-động của Khang, Lương. Sĩ phu nước ta từ xưa vốn chỉ biết có Khổng-tử, bắt đầu dẫn Mạnh-đức-tứ-cựu với Lư-thoa. Họ bắt đầu viết quốc-ngữ, một thứ chữ mượn của người phương Tây. Câu văn của họ cũng bắt đầu có cái rõ-ràng, cái sáng sủa của văn tây. Những tư-tưởng phương Tây đầy-dẫy trên Đông-dương tạp chí, trên Nam phong tạp chí và từ hai cơ-quan ấy thấm dần vào các hạng người có học. Người ta đua nhau cho con em đến trường Pháp-Việt, người ta gửi con em sang tận bên Pháp. Thế rồi có những người Việt-nam đậu kỹ-sư, đậu bác-sĩ, đậu thạc-sĩ, có những người Việt-nam nghiên-cứu khoa-học, triết-học và có những người Việt-nam chỉ nghĩ chuyện xây dựng một nền học riêng cho nước Việt-nam.

Bấy nhiêu sự thay đổi trong khoảng năm sáu mươi năm ! năm sáu mươi năm mà như năm sáu mươi thế-kỷ ! Nhưng cuộc Âu-hóa không phải chỉ có thế. Nó đã đi qua hai giai-đoạn : hình-thức và tư-tưởng, nó còn phải đi qua một giai đoạn nữa. Nó đã thay-đổi những tập-quán sinh-hoạt hằng ngày, nó đã thay-đổi cách ta vận-động tư-tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung-cảm của ta nữa. Những hình-thức mới của cuộc đời, những tư-tưởng mới và nhất là ảnh-hưởng văn-học Pháp ngày một thấm thía, ấy là những lợi khí Âu-hóa trong giai-đoạn thứ ba này.

Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giận hờn nhất nhất như ngày trước. Đã đành ta chỉ có từng ấy mối tình như con người muôn nơi và muôn thủa, nhưng sống trên đất Việt-nam đầu thế kỷ hai mươi, những mối tình của ta không khỏi có cái màu sắc riêng, cái dáng dấp riêng của thời đại.

“…Các cụ ta ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt…” Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao-nao vì tiếng gà lúc đứng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi ; ta thì ta cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái-tình của các cụ thì chỉ là sự hôn-nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng : cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi…, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu”.

Mấy câu nói xô bồ, liều lĩnh mà tha thiết của ông Lưu trọng Lư ở nhà Học hội Qui-nhơn hồi Juin 1934 đã vạch rõ tâm lý cả lớp thanh niên chúng ta.

Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi-ca chỉ là cái khát-vọng nói rõ những điều tín nhiệm, u uất, cái khát-vọng được thành-thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn. Chính ông Lưu-trọng-Lư cũng đã viết trong quyển Người sơn-nhân hồi mai 1933 : “Người thanh niên Việt-nam ngày nay đương bơ vơ đi người thi nhân của mình như người con đi tìm mẹ”.

Đã thế, không thể xem phong-trào thơ mới là một chuyện lập-dị do một bọn dốt nát bày đặt ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết-quả không thể không có của một cuộc biến-thiên vĩ đại bắt đầu từ hồi nước ta sát-nhập vào đế-quốc Pháp và xa hơn nữa, từ hồi Nguyễn-Trịnh phân tranh lúc người Âu mới đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hoá phương Tây, cái mầm sau này sẽ nẩy thành thơ mới.

HOÀI-THAN

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

  1.  Tôi không tin rằng người Việt-nam vốn quê hương trên sông Dương-tử.