Nạn “dốt chữ” phổ biến và sự phớt lờ thực trạng này biểu hiện của mối đe dọa hiện hữu tại Hoa Kỳ. Nhưng may mắn thay, cả nguyên nhân và giải pháp của cuộc khủng hoảng đó đều không phải là một bí ẩn – ít nhất cho những ai đã nghiên cứu vấn đề này. 

Trẻ nhỏ đang theo học tại một trường dame school (trường tiểu học tư thục nhỏ do những phụ nữ đứng tuổi ở địa phương giảng dạy). (1800–1886) (Ảnh: Hulton Archive/Getty Images)

Chịu trách nhiệm cho hiện tượng nguy hiểm đó là các “nhà giáo dục” xã hội chủ nghĩa vào những năm giữa 1800. Cụ thể là phương pháp ngu dốt họ dùng trong việc “dạy đọc” cho trẻ em.

Câu trả lời cho cuộc khủng hoảng dốt chữ rất đơn giản: Hoa Kỳ phải quay trở lại những gì đã hoạt động hiệu quả từ hàng nghìn năm qua và cho đến tận ngày nay: Hướng dẫn đánh vần có hệ thống.

Người dân Hoa Kỳ gần như chắc chắn là những người có học vấn cao nhất hành tinh vào những năm 1700 và 1800. Trên thực tế, những người Thanh Giáo định cư sớm nhất ở Massachusetts đã say mê đọc sách đến mức vào những năm 1640, họ đã thông qua “Đạo luật về Quỷ Satan Xưa” (Old Deluder Satan Act) để bắt buộc mọi người phải học đọc. Lý do là bởi vì nếu không có kiến thức về Kinh Thánh, ma quỷ sẽ dễ dàng lừa gạt cộng đồng của họ hơn. 

Niềm đam mê học vấn này đã biến Hoa Kỳ thành một xã hội có nhiều người giỏi chữ nhất cho đến thời điểm đó. Theo nghiên cứu của học giả Kenneth Lockridge của Đại học Montana “Học Vấn ở Thuộc địa New England” (Literacy in Colonial New England), có 90% người biết chữ vào năm 1800; ở các thành phố như Boston, con số này là gần 100%.

Theo ước tính của Joel Perlmann từ trường Bard College và Dennis Shirley từ trường Boston College, hầu như tất cả phụ nữ sinh vào đầu những năm 1800 đều biết chữ.

Trong nghiên cứu đột phá vào năm 1812 là “Giáo Dục Quốc Gia ở Hoa Kỳ” (National Education in the United States of America), Du Pont de Nemours ước tính rằng ngay cả trong số những người trẻ tuổi, tỷ lệ người không thể viết chữ – thậm chí là không thể viết ngay ngắn – chỉ có không quá 4/1000.

Năm 1800, tờ Boston Review đưa tin rằng không có quốc gia nào khác trên thế giới có tỷ lệ dân số có các kỹ năng đọc viết cơ bản và hiểu biết về “đại cương khoa học” cao hơn Hoa Kỳ.

Xem xét các tài liệu như Federal Papers* (Luận văn Liên bang), vốn dành cho người dân Hoa Kỳ bình thường, rõ ràng là trình độ biết chữ vào cuối những năm 1700 là phi thường, nhất là theo tiêu chuẩn ngày nay.

Đáng chú ý là tất cả những thành quả này hầu như không có sự can thiệp của chính phủ vào giáo dục. Trên thực tế, hầu hết trẻ em đã học đọc từ gia đình, sử dụng các tài liệu đơn giản nhưng hiệu quả cao như “Blue Back Speller” của Noah Webster và “New England Primer”. Hai công cụ này vừa dạy đọc bằng ngữ âm vừa cung cấp những bài học đạo đức quý giá.

Khủng hoảng trình độ học vấn

Đến giữa thế kỷ 20, mọi thứ đã thay đổi. Một cuộc khủng hoảng về khả năng đọc viết chưa từng có trong lịch sử thế giới đã diễn ra. Tỷ lệ biết chữ bắt đầu giảm mạnh, đặc biệt là sau Thế chiến thứ II.

Ngày nay, dữ liệu của chính phủ cho thấy sự sụt giảm thê thảm về khả năng đọc. Vào năm 1993, chính phủ Hoa Kỳ đã tiến hành một nghiên cứu toàn diện nhất về khả năng đọc viết. Và kết quả thật kinh ngạc.

Vào ngày 9/9 năm đó, trích dẫn nghiên cứu, tờ Boston Globe cho biết “gần một nửa số dân Hoa Kỳ đọc và viết kém đến mức họ khó có thể tìm được một công việc tốt.” Nhiều nhà phân tích khác kết luận rằng gần một nửa dân số quốc gia hoặc mù chữ hoặc ít nhất là gần mù chữ. Nói tóm lại, Hoa Kỳ đã bị “khuyết tật”.

Một nghiên cứu liên bang khác được thực hiện một thập kỷ sau đó cũng cho kết quả tương tự. Con số thậm chí còn tồi tệ hơn ở một số khu vực nhất định và trong giới trẻ Hoa Kỳ. Theo Khảo sát Tiến bộ Giáo dục Quốc gia gần đây nhất của chính phủ liên bang, chỉ khoảng 1/3 học sinh trung học phổ thông đọc thành thạo.

Và ở Hoa Thịnh Đốn, một báo cáo của Cơ quan Giáo dục Tiểu bang tiết lộ rằng 2/3 dân số trưởng thành biết chữ, giảm xuống còn 50% ở một số khu vực. 

Thủ đoạn bịp bợm của chủ nghĩa tập thể

Gốc của vấn đề bắt nguồn từ phương pháp dạy đọc. Hệ thống chữ viết trong tiếng Anh dựa trên các ký tự phiên âm, với mỗi chữ cái đại diện cho một hoặc nhiều âm thanh. Ví dụ: chữ cái “b” tạo ra âm thanh “buh”, trong khi chữ “p” tạo ra âm thanh “puh”.

Vì vậy, từ khi người Phoenicia phát triển hệ thống chữ viết này hàng ngàn năm trước, dạy một người đọc nghĩa là cung cấp cho người đó kiến thức để phát âm các mẫu tự, kết hợp chúng với nhau, và sau đó giải mã các từ.

Mục sư Thomas Gallaudet của Connecticut, một nhà giáo dục tuyệt vời theo Cơ Đốc Giáo, sau khi học hỏi từ một nhà giáo dục Pháp ở Paris, đã tiên phong cho một hệ thống mới. Nó được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau là phương pháp “nguyên chữ” (whole-word), phương pháp “nhìn như nói” (look-say) hoặc phương pháp “nhìn chữ” (sight-word). Rõ ràng là Gallaudet không có gì ngoài thiện ý, ngay cả khi những ý tưởng của ông tạo ra rất nhiều vấn đề.

Với cương vị là giám đốc của Viện tị nạn Hoa Kỳ tại Hartford về Giáo dục người Điếc và Câm từ năm 1817 đến 1830, Gallaudet đã làm việc để cải tiến các phương pháp dạy đọc cho trẻ em bị câm điếc. Bởi vì trẻ điếc không có khả năng nghe âm thanh nên dạy chúng liên kết một số âm thanh với một số chữ cái rõ ràng là không khả thi.

Vì vậy, thay vào đó, ông dạy bọn trẻ nhìn các chữ nguyên vẹn như các tượng hình, tương tự như hệ thống chữ viết của Trung Quốc, như thể bản thân từng chữ là một ký hiệu, thay vì xem chúng là một nhóm ký hiệu trong đó mỗi ký hiệu đại diện cho một âm thanh. Theo đó, thay vì dạy trẻ rằng từ “hat” (“nón”) bao gồm ba ký tự, mỗi ký tự đại diện cho một âm cụ thể, Gallaudet sẽ cho trẻ thấy nguyên chữ “hat” đó cùng với hình vẽ một chiếc nón, khuyến khích trẻ em ghi nhớ nguyên chữ và nghĩa của nó.

Đối với trẻ em khiếm thính, đây là một bước tiến vượt bậc. Nhưng Gallaudet và những người khác đã đưa ra giả thuyết sai lầm rằng phương pháp tương tự này cũng hiệu quả với trẻ em bình thường. Gallaudet thậm chí còn viết một cuốn sách dạy đọc vỡ lòng dựa trên những ý tưởng này, và bắt đầu quảng bá phương pháp của mình trong giới giáo dục và các tác phẩm in ấn.

Chỉ vài tháng ngắn ngủi sau khi được chọn làm Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của khối thịnh vượng chung vào năm 1837, vốn là một người theo chủ nghĩa tập thể luôn sẵn sàng thực hiện mọi thủ đoạn, ông Horace Mann (như đã đề cập trong các bài viết số trước)  đã giám sát việc đưa hệ thống mới này vào các trường tiểu học của chính phủ ở Boston.

Đó là một thảm họa.

Về cơ bản, trẻ em đột nhiên gặp khó khăn khi học đọc; nhiều trẻ có các triệu chứng được chẩn đoán ngày nay là “chứng khó đọc”.

Trong vòng vài năm, các hiệu trưởng trường học ở Boston đã hợp lực để vạch trần và ngăn chặn thủ đoạn này trước khi nó gây thêm thiệt hại. 

Các ý kiến phản biện được đưa ra trong “Nhận Xét về Báo Cáo Thường Niên Lần Thứ Bảy của Hon. Horace Mann” (Remarks on the Seventh Annual Report of the Hon. Horace Mann) chỉ ra rằng nhiều lập luận ủng hộ phương pháp nguyên chữ (whole-word) là “ngụy biện” và “dựa trên những tiền đề sai lầm”. 

Và kết quả cũng rất rõ ràng: “Đã có sự sụt giảm nghiêm trọng trong quá trình thử nghiệm hệ thống mới.” Đó là kết cục của thủ đoạn trên, ít nhất là trong một thời gian.

Phục hồi thủ đoạn bịp bợm

Thật đáng kinh ngạc, khoảng 50 năm sau khi bị coi là có hại, phương pháp: “nguyên chữ” (whole word) này lại được “nhà cải cách giáo dục” John Dewey làm sống lại. John Dewey là một nhà xã hội chủ nghĩa cứng rắn, gần như được công nhận là cha đẻ của hệ thống giáo dục công lập “cấp tiến” của Hoa Kỳ.

Tuy Mann có thể thực sự tin rằng phương pháp nguyên chữ sẽ có hiệu quả, nhưng có vẻ như Dewey không bị ảo tưởng như vậy. Đầu tiên, phương pháp này đã bị lên án triệt để vào những năm 1840 dưới thời Mann. Ngoài ra, Dewey đã sử dụng phương pháp này cho những đứa trẻ trong trường “thực nghiệm” của ông ở Chicago, và kết quả tương tự như những gì diễn ra ở các thế hệ trước đó tại Boston: trẻ em không thể đọc đúng cách.

Dewey cũng để lại bằng chứng xác thực về mong muốn cố ý phá hủy tỷ lệ biết chữ cao ở trẻ em Hoa Kỳ vào thời điểm đó. Trong bài tiểu luận năm 1898 gây tranh cãi của mình, “Giáo Dục Tiểu Học Fetich” (The Primacy Education Fetich), ông công khai lập luận rằng các trường học không nên chú trọng dạy đọc vì ông tin rằng nó sẽ dẫn đến chủ nghĩa cá nhân.

Trên thực tế, ông nói rằng trẻ em mới đi học không nên được hướng dẫn nhiều về “3 Rs”: đọc (reading), viết (writing), và số học (arithmetic). Thay vào đó, vì rất hâm mộ Liên Xô, Dewey nghĩ rằng trẻ nhỏ chủ yếu cần phải được xã hội hóa đúng cách để trở thành những thành viên có ích cho tập thể.

Ông biết ý tưởng của mình sẽ không được các bậc cha mẹ, giáo viên hay những người đóng thuế đương đại tán thành. “Thay đổi phải đến dần dần,” Dewey viết trong bài tiểu luận đó. “Sự ép buộc quá mức sẽ ảnh hưởng đến thành công cuối cùng vì tạo ra phản ứng kịch liệt.” Vì vậy, ông cầu cạnh gia tộc Rockefeller và giới tinh hoa.

Nhiều năm sau, các học trò của Dewey, một tập hợp hỗn độn gồm những người theo chủ nghĩa xã hội và những người theo Thuyết ưu sinh** phân biệt chủng tộc, đã tạo ra sách tập đọc vỡ lòng dựa trên phương pháp nguyên chữ. William Gray tại Đại học Chicago, nơi Dewey là trưởng khoa giáo dục trong nhiều năm, đã sản xuất loạt phim “Dick and Jane”. Trong khi đó, Arthur Gates tại Cao đẳng Sư phạm của Đại học Columbia, trường Dewey theo học sau khi tốt nghiệp Đại học Chicago, đã sản xuất cuốn Macmillan Readers

Phải mất một thời gian họ mới phát triển được tại Hoa Kỳ. Sau Thế chiến II, khi tiền thuế bị tiêu tốn, nhiều học khu khắp Hoa Kỳ đã bị ảnh hưởng bởi Dewey và thuộc hạ của ông, bắt đầu mua sách và áp đặt phương pháp nguyên chữ cho hàng triệu học sinh ngây thơ.

Tỷ lệ biết chữ nhanh chóng lao dốc.

Đến những năm 1950, cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đến mức công chúng bắt đầu đặt câu hỏi. Và vào năm 1955, Rudolf Flesch đã xuất bản cuốn sách gây chấn động “Tại Sao Johnny Không Thể Đọc” để phanh phui trò lừa bịp.

“Việc dạy đọc trên khắp Hoa Kỳ, trong tất cả các trường học, trong tất cả các sách giáo khoa là hoàn toàn sai lầm và trái với mọi logic và lẽ thường,” ông giải thích, chỉ trích phương pháp nguyên chữ và cuộc khủng hoảng đọc viết do nó gây ra.

Vụ tai tiếng đó khiến nhiều trường phải khôi phục lại cách dạy ngữ âm truyền thống. Nhưng những người Utopia ủng hộ cách đọc quái gở đó không biến mất. Chưa đầy 20 năm sau khi Flesch vạch trần chúng, nhà giáo dục huyền thoại và chuyên gia đọc sách, Tiến sĩ Samuel Blumenfeld cũng phanh phui họ một lần nữa trong “Những Người Mù Chữ Mới”. Trong cuốn sách, ông đã phân tích một cách có hệ thống những cuốn sách dạy đọc phổ biến nhất đang được sử dụng trên khắp Hoa Kỳ, làm nổi bật các vấn đề của chúng và cho thấy những thiệt hại to lớn chúng gây ra cho trẻ em.

Tai tiếng ồn ào một lần nữa xảy ra. Và một lần nữa, những người ủng hộ thủ đoạn bịp bợm lại đặt tên cho các âm mưu của họ là “toàn bộ ngôn ngữ” (whole language) và đưa ra những thay đổi nhỏ, sau đó tiếp tục làm khó hàng triệu trẻ em Hoa Kỳ.

Thật đáng kinh ngạc khi một số “nhà giáo dục” không có kinh nghiệm lại tranh cãi rằng dạy trẻ em đọc đúng cách là một phần trong một âm mưu to lớn của “cánh hữu”.

Giờ đây, dùng công nghệ mới để quét não đã cho thấy những tổn thương não bộ của những đứa trẻ là nạn nhân của trò lừa đảo đó. Tiến sĩ Stanislas Dehaene, Giám đốc Đơn vị Hình ảnh Thần kinh Nhận thức (Cognitive Neuro-Imaging Unit) tại Saclay, Pháp, đã chứng minh tác hại đó. Ông giải thích rằng phải dạy trẻ em đọc bằng cách cho chúng biết sự tương ứng giữa âm thanh và chữ cái một cách có hệ thống.

Các cơ sở giáo dục giả vờ như không nhận thấy. Và điều phi lý vẫn tiếp tục diễn ra.

Ngày nay, phương pháp “nguyên chữ” vẫn ám ảnh các trường công lập khắp Hoa Kỳ, thường được sử dụng dưới các thuật ngữ mới như “đọc viết cân bằng” và “đọc có hướng dẫn”. Theo tiêu chuẩn giáo dục “cốt lõi chung” (Common Core) quốc gia do cựu Tổng thống Barack Obama áp đặt cho Hoa Kỳ, trẻ em mẫu giáo thậm chí còn được yêu cầu ghi nhớ “các hình chữ” (sight words). Điều này giúp tăng cường phản xạ nguyên chữ và có thể gây ra khuyết tật đọc suốt đời, mặc dù có một chút ngữ âm xen vào.

Có lẽ đáng kinh ngạc hơn là mặc dù các phương pháp đó đã hoàn toàn mất uy tín từ những năm 1840, Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) tuyên bố trẻ em trên toàn thế giới vẫn nên học “từ vựng thông dụng” (sight vocabulary).

Hãy suy xét điều này: Những người không thể đọc không thể tự giáo dục bản thân một cách dễ dàng. Họ cũng dễ dàng bị kiểm soát và bị thao túng hơn nhiều. Và có lẽ đó chính là vấn đề.

Chắc chắn, điều đó đúng với hầu hết các giáo viên ở Hoa Kỳ ngày nay – những người không được đào tạo để dạy đọc đúng cách.

“Sai lầm” lớn này vẫn tiếp tục được các cơ sở giáo dục ủng hộ cho đến ngày nay, và dường như luôn luôn được thúc đẩy bởi những người theo chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, và chủ nghĩa tập thể. Điều này cho thấy một âm mưu xấu xa hơn nhiều đang diễn ra.

Ông Alex Newman là nhà báo quốc tế từng đoạt giải thưởng, nhà giáo dục, nhà văn, nhà tư vấn, đồng tác giả cuốn “Tội ác của các nhà giáo dục: Cách những người Utopia đang dùng trường học công lập để hủy hoại trẻ em Hoa Kỳ” (Crimes of the Educators: How Utopians Are Using Government Schools to Destroy America’s Children). Ông cũng là giám đốc điều hành của Liberty Sentinel Media.

Quan điểm được trình bày trong bài viết này là của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.

Alex Newman
Hân Hữu biên dịch

*Federal Papers (gồm 85 bài tiểu luận do Alexander Hamilton, James Madison, và John Jay viết cuối những năm 1780, kêu gọi cử tri New York ủng hộ bản Hiến pháp)

**Eugenicist: Thuyết ưu sinh là “phong trào sinh học-xã hội ủng hộ việc dùng các phương thức để cải thiện cấu tạo gene của dân số”. Thuyết này rất nổi tiếng vào những thập niên đầu thế kỷ 20.