CẢNH BÁO: Bài viết này chứa thông tin nhạy cảm liên quan đến lạm dụng và bạo lực tình dục ở trẻ em.

Trước thời Kinsey

Ngay cả trước thời Kinsey, những kẻ lật đổ đã nhận ra việc lạm dụng tình dục trẻ em và phá hoại đạo đức tình dục có thể làm suy yếu xã hội – và họ tâm đắc với điều đó.

Năm 1919, nhà hoạt động đồng tính người Đức Magnus Hirschfeld đã thành lập Viện Nghiên cứu Tình dục. Các mục tiêu của Viện là thúc đẩy “tự do yêu đương”, thủ dâm, đồng tính luyến ái, an tử (euthanasia), kiểm soát dân số, phá thai, nữ quyền, v.v. Tại Hoa Kỳ, nghị trình này được rêu rao như một biện pháp để chống lại bệnh lây lan qua đường tình dục và đói nghèo.

Những người cộng sản cũng đóng một vai trò quan trọng. Trước Cách mạng Bolshevik ở Nga, những người cộng sản Nga đã thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục giới tính biến thái và “tự do yêu đương”. Tuy nhiên, sau khi nhận ra rằng xã hội (và chế độ của họ) sẽ sụp đổ nếu tiếp tục như vậy, chương trình đã bị dừng lại vào năm 1924 – ít nhất là ở Nga. Mặc dù vậy tư tưởng “Con người Xô Viết mới” vẫn được hình thành.

Tuy nhiên, bên ngoài các quốc gia cộng sản, những người theo chủ nghĩa Marx tiếp tục thúc đẩy cuộc cách mạng tình dục cấp tiến của họ tại các quốc gia tự do, và nó vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay.

Phó Ủy ban Giáo dục và Văn hóa Bolshevik Gyorgy Lukacs dưới chế độ Bela Kun của Hungary năm 1918, đã đi tiên phong trong chiến lược này ở Hungary; và kết quả thật thảm khốc. Khi lên nắm quyền, Lukacs và các “đồng chí” của ông ta đã ra lệnh thực hiện giáo dục giới tính thô bạo, rất giống với chương trình được sử dụng ở Hoa Kỳ ngày nay.

Mục tiêu của ông ta là xóa bỏ nền văn minh và các giá trị Cơ Đốc Giáo của Hungary trên con đường đi đến Chủ nghĩa Marxist Không tưởng. Các công cụ của ông ấy bao gồm chỉ đạo các buổi biểu diễn múa rối mô tả các hành vi quan hệ tình dục đồi bại cho trẻ nhỏ, khuyến khích sự gần gũi giữa nam và nữ trong giáo dục giới tính, và chế giễu các giá trị gia đình của Cơ Đốc Giáo vốn là nền tảng của nền văn minh.

Trong khi chế độ Bela Kun ở Hungary không tồn tại lâu, Lukacs đã trở thành một nhân vật quan trọng của Trường phái Frankfurt, như đã được đề cập trong phần 6 của loạt bài này. Nhóm này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền bá giáo dục giới tính và sự băng hoại trong tình dục trên khắp phương Tây. Họ đã làm điều này không chỉ bằng cách khuyến khích giáo dục giới tính, mà bằng cách phá bỏ các giá trị truyền thống một cách có chủ ý và có chiến lược; đặc biệt là những giá trị liên quan đến tình dục, hôn nhân, nguyên tắc một vợ một chồng và cuộc sống gia đình.

Đến đầu những năm 1900, Hiệp hội Giáo dục Quốc gia (NEA) do những người xã hội chủ nghĩa kiểm soát bắt đầu vận động cho việc giảng dạy “an toàn tình dục” trong các trường học (phần 8 của loạt bài này đã đề cập). Nó mượn cớ là để chống lại các bệnh hoa liễu vốn tất yếu bùng nổ do tình trạng quan hệ tình dục bừa bãi được thúc đẩy bởi phong trào giải phóng tình dục.  

Một nhân vật quan trọng khác trong việc thúc đẩy ý tưởng giáo dục giới tính là G. Stanley Hall, một người cấp tiến đã đào tạo Dewey, cha đẻ của chương trình đào tạo “cấp tiến” núp dưới bóng là giáo dục công lập ngày nay. Lý do đẩy mạnh giáo dục giới tính của Hall là một số cô gái tin rằng họ có thể mang thai bằng cách hôn.

Biến đổi các giá trị

Rốt cuộc, giáo dục giới tính chính là một phương tiện để kết thúc nền văn minh bằng cách: Thay đổi các giá trị của trẻ em và phá hoại gia đình nhằm biến đổi cơ bản xã hội Hoa Kỳ, rời xa nền văn minh Cơ Đốc Giáo tự do, và hướng đến một “Chủ Nghĩa Không Tưởng” mới.

Liên Hiệp Quốc và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) – tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa nhân văn như được đề cập trong phần 9 của loạt bài này – cũng đã tham gia vào việc giáo dục giới tính. Một báo cáo về Hội nghị chuyên đề quốc tế do UNESCO tài trợ tháng 02/1964 về Giáo dục sức khỏe, Giáo dục giới tính, và Giáo dục Cuộc sống Gia đình đã khuyến nghị “giáo dục giới tính [nên] bắt đầu từ cấp tiểu học.”

Tài liệu cũng kêu gọi “sex ed” (giáo dục giới tính) được “tích hợp vào toàn bộ chương trình giảng dạy” và lập luận rằng “trẻ em trai và trẻ em gái nên được dạy cùng nhau”. Tiếp nối Kinsey, Liên Hiệp Quốc, vốn luôn thân thiết với gia tộc Rockefeller đã tài trợ cho Kinsey, kêu gọi sử dụng “các phương pháp giảng dạy chống giáo điều”, đồng thời khẳng định “các chuẩn mực đạo đức là những khái niệm tương đối có thể thay đổi theo thời gian.”

Việc giảng dạy “chống giáo điều” và thuyết tương đối về đạo đức là yếu tố then chốt của họ. Do đó, tất cả việc giáo dục giới tính được kết hợp với cái gọi là “làm rõ các giá trị”. UNESCO – một tổ chức bị những người cộng sản chủ nghĩa xã hội và nhân văn thống trị từ ngày đầu tiên – đã ủng hộ kế hoạch giáo dục này trong nhiều thập kỷ.

Quá trình lật đổ này nhằm khiến trẻ em từ bỏ những ước thúc tuyệt đối về đạo đức trong tình dục và mọi lĩnh vực khác, bằng cách sử dụng các biện pháp thao túng tinh thần và cảm xúc.

Nó cung cấp cho trẻ em những tình huống giả định, trong đó đáp án có tính đạo đức mà chúng được [cha mẹ] dạy là sai. Một ví dụ phổ biến là một chiếc thuyền cứu sinh chỉ có thể chứa được 8 người, nhưng hiện đang có 9 người. Các học sinh được cho biết ai đang có mặt trên thuyền – bác sĩ, kỹ sư, y tá, cảnh sát, v.v. – sau đó được hỏi ai nên hy sinh vì “điều tốt đẹp hơn”.

Tất nhiên, thay vì chọn một nạn nhân để sát hại, phương án tốt hơn là các hành khách thay phiên nhau bơi dọc theo chiếc thuyền. Nhưng câu trả lời đó sẽ phá hỏng toàn bộ mục đích của bài tập là khiến trẻ em không phân biệt được đúng và sai, cũng như bác bỏ những lời dạy của cha mẹ và mục sư của chúng.

Phương pháp trên kết hợp với kiểu giáo dục giới tính thô tục – khuyến khích tâm lý “điều gì cũng có thể xảy ra” và cung cấp cho trẻ em những thông tin giả dối về cảm giác “an toàn” mà không có tiêu chuẩn đạo đức ước thúc và không màng đến hậu quả (rốt cuộc, nếu có thai thì có thể phá) – điều vô cùng thảm khốc.

Những hậu quả

“Thành quả” của tất cả sự giáo dục giới tính triệt để này hiện đã rõ ràng. Các thể chế của hôn nhân và gia đình đang rơi tự do. Một nửa số hôn nhân hiện nay kết thúc bằng ly hôn. Trong khi đó, sinh suất đã giảm mạnh xuống dưới mức sinh thay thế (replacement levels) ở phương Tây.

(*Mức sinh thay thế là mức sinh mà trung bình một phụ nữ trong toàn bộ cuộc đời sinh đẻ của mình sinh đủ số con gái để thay thế mình thực hiện chức năng sinh đẻ, duy trì nòi giống.)

Nền văn minh đang chết dần theo nghĩa đen bởi một mớ hỗn độn những hành vi tình dục không tình yêu, lạm dụng ma túy, tự tử, tuyệt vọng, bệnh hoa liễu, văn hóa phẩm khiêu dâm và loạn tình dục.

Các cá nhân cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tiến sĩ Reisman cho biết: “Những bộ não non nớt không phải được tạo ra để đối phó các kích thích tình dục dưới bất kỳ hình thức nào.” Việc giáo dục giới tính rất khó hiểu và khiến bất kỳ đứa trẻ bình thường nào cũng lo lắng. Thật vậy, những kích thích này làm não bộ của chúng sắp xếp lại để thích ứng với thông tin “mới”, bà nói.

Nó cũng khiến đứa trẻ bắt chước các hành vi mà chúng tiếp xúc, dẫn đến chứng nghiện các kích thích tình dục.

Bà Reisman, một trong những chuyên gia học thuật hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này, cho biết: “Chứng nghiện các kích thích tình dục và hành vi tình dục sẽ dẫn đến trầm cảm, các loại rối loạn nhận dạng, STDs (các bệnh lây truyền qua đường tình dục), các vấn đề sức khỏe tâm thần, kiệt quệ cảm xúc, tức giận, mất thành tích học tập v.v.”

Bà nói thêm: “Trước đây, những cơn “giật” trong kích thích tình dục thường khiến nhiều đứa trẻ nhầm lẫn rằng chúng là người đồng tính luyến ái. Giờ đây, nhiều thanh niên sẽ cho rằng chúng là người chuyển giới, đặc biệt là khi những thứ này được khuyến khích ở khắp nơi, và thường là do chính những bậc cha mẹ rất rắc rối của họ.”

Dữ liệu đã chứng minh điều này, một nghiên cứu năm 2017 từ Đại học California – Los Angeles cho thấy rằng hơn 1/4 tư trẻ em California từ 12 đến 17 tuổi được xác định là “có giới tính không phù hợp” hoặc “ái nam ái nữ”. Tại Thụy Điển – quốc gia giáo dục giới tính thậm chí còn cấp tiến và phổ biến hơn ở Hoa Kỳ – các báo cáo chỉ ra rằng số lượng trẻ em “chuyển giới” đang tăng gấp đôi mỗi năm.

Bà Reisman cho biết: “Sức khỏe tinh thần cũng như sức khỏe thể chất và tình dục của trẻ vị thành niên đã suy giảm theo mọi thước đo về mức độ hạnh phúc mà xã hội chúng ta đề ra trong lịch sử,” và xu hướng này vẫn tiếp tục.

Tiến sĩ Anchell, người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục giới tính, đã ghi lại những thiệt hại gây ra cho trẻ em trong các cuốn sách: “Kẻ Sát Hại Trẻ Em: Cái Nhìn Phân Tâm Về Giáo Dục Giới Tính” (Killers of Children: A Psychoanalytic Look At Sex Education) và “Điều Sai Lầm Trong Giáo Dục Giới Tính” (What’s Wrong With Sex Education).

Trích dẫn một lượng lớn dữ liệu và bằng chứng, Tiến sĩ Anchell lập luận rằng việc xâm hại tình dục trẻ em gây ra tác hại khôn lường và thường là vĩnh viễn, gây tổn hại nghiêm trọng đến cuộc sống hôn nhân, gia đình, các mối quan hệ và tương lai của trẻ em. Trong một số trường hợp, nó thậm chí có thể góp phần gây ra chứng biến thái nhân cách, tự tử, sát nhân hàng loạt, v.v.

Trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi Châu, chỉ có khoảng 15% trẻ em được sinh ra ngoài giá thú từ năm 1940 đến năm 1950. Đến năm 2008, sau 60 năm giáo dục giới tính, gần 3/4 trẻ em da đen là do những bà mẹ đơn thân sinh ra. Nhiều bằng chứng cho thấy những đứa trẻ lớn lên mà không có bố thông thường sẽ sống tệ hơn nhiều so với những đứa trẻ có đủ cả cha lẫn mẹ.

Trong số những người da trắng, không tới 5% trẻ em được sinh ra ngoài giá thú trước năm 1960. Đến năm 2008, con số này bùng nổ lên khoảng 30%.

Tất nhiên, giáo dục giới tính toàn diện thường được quảng cáo ra công chúng như một công cụ để chống lại việc mang thai ở tuổi vị thành niên và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Trên thực tế, số liệu rất rõ ràng: Sau khi giáo dục giới tính ra đời, các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) và trẻ vị thành niên mang thai ngoài ý muốn đã tăng vọt. Rõ ràng, giảm STDs và mang thai ngoài ý muốn chưa bao giờ là mục tiêu. Nếu đúng như vậy thì cuộc thử nghiệm này lẽ ra đã phải dừng lại muộn nhất vào những năm 1960, chứ không phải được tăng tốc.

Tương lai phía trước

Giáo dục giới tính toàn diện cho trẻ nhỏ ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới đang ngày càng trở nên cực đoan. Những đứa trẻ non nớt đang phải tiếp xúc với những nội dung tục tĩu, đồi trụy, khiêu dâm, tuyên truyền LGBT, v.v.

Năm 2018, UNESCO đã phát hành “hướng dẫn kỹ thuật quốc tế về giáo dục tình dục” kêu gọi các trường học dạy trẻ em về “khoái cảm tình dục”, thủ dâm, và “phản ứng với kích thích tình dục” trước khi chúng lên 10 tuổi. Đến 12 tuổi, các tiêu chuẩn giảng dạy kêu gọi trẻ em phải được giáo dục rằng “các hành vi tình dục không giao cấu” có thể sẽ “thú vị”.

“‘Tân Thế Giới Dũng Cảm’ (The Brave New World) thực sự không bao giờ dũng cảm,” bà Reisman nói, đề cập đến cuốn sách nổi tiếng của Aldous Huxley về một tương lai của giải phóng tình dục và chính phủ kiểm soát mọi khía cạnh của cuộc sống. “Chúng tôi có thể thấy cuộc sống của mình trong đó.”

Khi được hỏi tại sao chính phủ và các tổ chức quyền lực khác có vẻ rất kiên quyết trong việc tính dục hóa trẻ em ở độ tuổi nhỏ, Bà Reisman nói rằng một phần là do chạy theo đồng tiền. Bà nói: “Các chính phủ được hỗ trợ tài chính bởi một số tổ chức và nhân vật trong ngành công nghiệp khiêu dâm, dược phẩm, và tổ hợp công nghiệp tình dục.”

“Chính phủ độc tài ủng hộ việc dung dưỡng các đối tượng có đầu óc phụ thuộc vào họ,” bà nói thêm. “Nếu giáo dục giới tính cho trẻ con sớm, nạn nhân sẽ bị hạn chế về khả năng tư duy phản biện, ít được giáo dục thực tế. Chính phủ sẽ có những đối tượng sẵn sàng kích động sự tuyên truyền man rợ như Chiến binh Công lý Xã hội, hoặc những đứa trẻ/giáo sư đại học mà liên tục hét lên từ F* với bất kỳ ai có suy nghĩ khác.”

Các giải pháp

Để đối phó với cuộc “khủng hoảng hiện sinh” (thấy cuộc sống không ý nghĩa), Tiến sĩ Reisman đưa ra hai điểm chính: Đưa trẻ em ra khỏi trường công lập và mở các cuộc điều tra tội phạm về bộ máy giáo dục giới tính của Kinsey.

“Đưa trẻ em ra khỏi các trường công lập; trả lại quyền dạy dỗ con cháu cho cha mẹ hoặc ông bà chúng,” bà nói. “Cha mẹ là những nhà giáo dục chính của con họ và họ cần phải nhận lại vai trò và trách nhiệm đó.”

Ngoài ra, bà cũng kêu gọi khôi phục các tiêu chuẩn đạo đức Do Thái–Cơ Đốc Giáo và bãi bỏ các điều khoản miễn trừ đối với các đạo luật suy đồi nhằm bảo vệ các quan chức trường công lập phát tán tài liệu khiêu dâm cho trẻ em. Những hành động này được xem là trọng tội trong hầu hết các trường hợp.

Trên hết, bà kêu gọi các nhà lập pháp hồi sinh đạo luật H.R. 2749 để điều tra Viện Kinsey về bất kỳ “hoạt động tội phạm nào trong quá khứ và hiện tại của viện”. Viện đã lập luận rằng “tính bảo mật của bệnh nhân” ngăn cản việc chia sẻ thông tin, nhưng bà Reisman và những người ủng hộ khác nói rằng điều cần thiết là người dân Hoa Kỳ phải biết sự thật về những gì đã xảy ra.

Cơn sốt giáo dục giới tính được những người cộng sản khơi mào, sau đó được “Tiến sĩ” Kinsey kế thừa, kết hợp với sự tiếp quản giáo dục của chính phủ “cấp tiến” đã đưa quyền tự do của gia đình, nền văn minh, và chính trị đến bờ vực sụp đổ.

Đã đến lúc người dân Hoa Kỳ cần nghiêm túc giải quyết những vấn đề này trước khi tất cả rơi vào vực thẳm.

Ông Alex Newman là nhà báo quốc tế từng đoạt giải thưởng, nhà giáo dục, nhà văn, nhà tư vấn, đồng tác giả cuốn “Tội Ác của Các Nhà Giáo Dục: Cách Những Người Utopia Đang Dùng Trường Học Công Lập Để Hủy Hoại Trẻ Em Hoa Kỳ” (Crimes of the Educators: How Utopians Are Using Government Schools to Destroy America’s Children). Ông cũng là giám đốc điều hành của Liberty Sentinel Media.

Quan điểm được trình bày trong bài viết này là của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.

Do Alex Newman thực hiện
Hân Hữu biên dịch
Tham khảo bản gốc từ The Epoch Times