Ngoài việc bày tỏ lòng sùng kính và hướng về thế giới thiên quốc, một mục đích quan trọng khác của nghệ thuật là khắc họa chân thực phong cảnh thiên nhiên, cùng với tinh thần tư tưởng hàm ý bên trong. 

Nghệ thuật phương Tây thời Trung cổ và nghệ thuật Trung Quốc cổ đại đều thiên về tả ý, trong khi nghệ thuật phương Tây sau thời kỳ Phục Hưng lại chú trọng thể hiện hình thức bề mặt mỹ hảo, chân thật và tinh tế. Nghệ thuật truyền thống trước cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, dù ở phương Đông hay phương Tây, đều lấy quang minh làm then chốt, gắng sức duy hộ cái thiện của nhân tính và các giá trị đạo đức.

Chúng ta hãy men theo dòng sông dài lịch sử để nhìn lại một số nơi trên thế giới: khi các vương triều thay đổi, đạo đức của con người bại hoại, họ đã xa rời Thần như thế nào mà dẫn đến diệt vong; các nghệ thuật gia phẩm đức cao thượng đã ghi lại những bài học của lịch sử ra sao trong tác phẩm của họ, để lưu truyền qua nhiều thế hệ, soi sáng và cảnh báo thế hệ mai sau.

Nữ sử châm đồ

Trước tiên chúng ta đến vùng đất Thần Châu. Vào thời Tây Tấn, Hoàng hậu Dương Diễm của Tấn Vũ Đế đã nhận hối lộ từ Cổ Sung, hết sức tiến cử con gái của Cổ Sung là Cổ Nam Phong thành thái tử phi. Tấn Vũ Đế ban đầu cũng không thích tướng mạo xấu xí, tính tình ghen tuông của Cổ Nam Phong, nhưng ông không thể chịu đựng được những lời cầu xin liên tục của hoàng hậu và cuối cùng đã đồng ý. Sau khi Cổ Nam Phong trở thành thái tử phi, đã dùng nhiều thủ đoạn để giúp thái tử nhu nhược, đần độn chiếm được sự sủng ái của Vũ Đế, thuận lợi đăng cơ thành Hoàng đế, sau đó chuyên quyền gây loạn chính sử triều cương bại hoại, cuối cùng dẫn đến tám vương làm loạn khiến Tây Tấn sụp đổ.

Sau khi thành lập triều đại Đông Tấn, Trương Hoa đã nhấn mạnh lại sự quan trọng của phụ đức (đạo đức phụ nữ), và không để đất nước lặp lại những sai lầm tương tự; ông đã viết một áng văn khuyên bảo nữ quan. Áng văn chương ấy nhấn mạnh đức hạnh của người phụ nữ đối với một quốc gia là vô cùng quan trọng. Làm hoàng hậu càng phải biết tu dưỡng đạo đức thật cao, lấy hiền đức mà ảnh hưởng đến quốc vương, để quốc vương có thể sửa đổi hướng thiện, bình trị thiên hạ. Họa sĩ nổi tiếng của triều đại Đông Tấn, Cố Khải Chi, đã vẽ một bức tranh dàiNữ sử châm đồcăn cứ trên thiên văn chương này. Bức tranh miêu tả 12 cảnh, gồm có: Phàn cơ cảm trang, Vệ cơ gián Tề Hoàn Công, Phùng tiệp dư đáng hùng, Ban tiệp dư từ liễn và các sự tích hiền nữ có tiếng trong lịch sử. Thành tựu nghệ thuật của bức tranh này rất cao, nét vẽ xuất thần, nhân vật trong tranh trang nhã, ăn mặc duyên dáng, phong thái nhẹ nhàng, là quốc bảo truyền thế.

Một phần bản sao “Nữ sử châm đồ” thời Tống. (Ảnh đăng trên shenyunperformingarts.org)

Con người ngày nay thường hiểu lầm rằng phụ nữ không được xem trọng ở thời cổ đại. Trên thực tế, xã hội truyền thống rất xem trọng nữ tính. Khổng Tử đã soạn ra Kinh Thi, bài thơ đầu tiên chính là Quan Thư, nhấn mạnh hiền đức của người vợ từ trong gia đình cho đến quốc gia là vô cùng quan trọng, cũng mười phần có ý nghĩa yêu quý và tôn kính. Trong hoàng tộc, hoàng đế có các sử quan ghi chép lại lời nói và việc làm, có gián quan để khuyến cáo, nói lời can ngăn, tránh cho hoàng đế có ngôn hành thất đức. Hoàng hậu cũng có nữ sử đến dạy dỗ khuyên can. Từ trên xuống dưới, quốc gia đều coi trọng đạo đức và giáo hóa, cho dù là cửu ngũ chí tôn, mẫu nghi thiên hạ cũng không thể không tuân thủ quy phạm đạo đức. Trong bối cảnh như vậy, rất nhiều tác phẩm nghệ thuật duy hộ đạo đức, lấy lời hay khuyên bảo con người làm điều thiện và tránh xa việc ác.

Ngoài loại tác phẩm nghệ thuật có mục đích rõ ràng là giáo hóa đạo đức ra, còn có vô số tác phẩm khác ca ngợi đào nguyên tiên cảnh, cũng nhằm duy hộ sự thuần chân thuần thiện của thiên tính con người. Từ xa xưa, người Trung Quốc đã sùng Đạo; Khổng Tử được tôn là Thánh nhân, cũng là tín đồ của tổ sư Đạo gia Lão Tử. Kinh điển của Đạo gia còn có Đạo Đức Kinh, đề cao tư tưởng con người cần phải thuận ứng Thiên đạo, phải xem trọng đạo đức. Đạo gia khuyên con người phải phản bổn quy chân, cởi bỏ sự ràng buộc của danh lợi, quay về thiên tính vô tiêm vô nhiễm. Người xưa tin rằng để làm được điều này một cách dễ dàng hơn thì nên ẩn cư tránh đời, tại nơi núi sâu tìm một chốn đào nguyên. Kết quả là đã sản sinh ra rất nhiều tranh sơn thủy, tranh ẩn sĩ ở thời Trung Quốc cổ đại. Loại tranh sơn thủy này chứa đựng nội hàm văn hóa Đạo gia sâu sắc, phản ánh tình cảm cao đẹp thuần khiết, tấm lòng lỗi lạc của họa gia, khiến người xem quên đi trần tục, nâng cao tâm thành kính đối với Thiên Địa tạo hóa, tỉnh ngộ ra sự khiêm tốn nhỏ bé của chính mình.

Cái giá của sự phóng túng tình cảm

Tượng các vị thánh đồ Cơ đốc giáo bên trong đại giáo đường Saint Peter. (Ảnh đăng trên shenyunperformingarts.org)

Tiếp theo chúng ta đến với thánh địa Jerusalem cách đây hơn 2,000 năm trước. Đế chế Tân Babylon này đã từng rất huy hoàng. Sau khi đế quốc này được truyền cho vua Nebuchadnezzar, Babylon thôn tính nước Do Thái, cướp phá thủ đô nước Do Thái và thôn tính luôn các nước nhỏ láng giềng Moab, Ammon, và Edom. Sau khi trở về Babylon với vô số vàng bạc châu báu và hàng ngàn tù binh, Nebuchadnezzar bắt đầu cuộc sống rượu chè say sưa, trang trí mọi vật dụng trong cung điện bằng châu báu, đem những người Do Thái trẻ tuổi không chịu khuất phục ném vào lò lửa; thậm chí ông còn tự xem mình như là Thượng Đế.

Một ngày nọ, ông ta mơ thấy Thượng Đế cảnh báo rằng ông phải kết thúc cuộc sống tội lỗi này; nếu không cải biến, trừng phạt của Thượng Đế sẽ giáng xuống. Tuy nhiên, Nebuchadnezzar không quan tâm và vẫn sống một cuộc sống xa hoa đầy dục vọng. Một hôm, khi đang đi dạo trong cung điện, kiêu ngạo nhìn ra vương quốc của mình, Nebuchadnezzar đột nhiên phát cuồng, chạy trốn khỏi cung điện, và sống trong rừng như dã thú suốt bảy năm. Dù sau này Nebuchadnezzar bình phục trở lại, nhưng bài học ấy cũng không khiến con cháu của ông tỉnh ngộ. Sau đó con trai của Nebuchadnezzar là Belshazzar lên ngôi, vẫn ăn chơi sa đọa, tha hồ hưởng lạc, không tu thiện đức. Vì vậy, Thần đã viết một dòng chữ trên tường, ý tứ là: “Thần tính số năm trị vì vương quốc của ngươi đã hết, và vương quốc của ngươi sẽ thuộc về người Medes và người Ba Tư.” Đêm đó, Belshazzar bị giết, người Medes đã công phá vương quốc Tân Babylon.

Bức tranh “Thịnh yến của Belshazzar” của Rembrandt. (Ảnh đăng trên shenyunperformingarts.org)

Vào thế kỷ 17, Rembrandt, một họa sĩ tiêu biểu của nghệ thuật Baroque Hà Lan, nổi tiếng với việc vẽ những câu chuyện lịch sử và kinh thánh. Ông đã vẽ cảnh tượng chấn động được ghi lại trong cuốn Thánh Kinh của Daniel: Người hầu gái của Belshazzar đã dùng đồ cướp được trong Thánh điện – vốn là những đồ dùng bằng vàng bạc thờ cúng Thần linh – để rót rượu, nhưng Belshazzar chưa kịp thưởng thức thì trên tường đột nhiên xuất hiện một bàn tay và dòng chữ bí ẩn, khiến Belshazzar vô cùng kinh hãi và khiếp sợ. Ngụ ý trong tranh là phóng túng hưởng thụ tình cảm dục vọng thường chỉ thoáng qua trong giây phút; phồn hoa qua đi, sự phán xét của Thần mới là kết cục sau cùng của sinh mệnh. Khi đó, biểu hiện của con người thế gian sẽ được dùng để phán xét: người khiêm tốn, tự giác, thiện lương sẽ đắc phúc báo; kẻ kiêu căng ngang ngược, phóng túng dục vọng, tàn bạo sẽ gặp ác báo.

Thomas Jefferson, một trong những quốc phụ sáng lập nước Mỹ đã từng nói: “Thượng đế đại diện cho đạo đức lương thiện và những điều đẹp đẽ nhất mà nhân loại có thể có được.” Cho dù là Cơ đốc giáo phương Tây, Thiên Chúa giáo, hoặc Phật giáo, Đạo giáo phương Đông đều khuyên bảo dẫn dắt thế nhân tuân theo tiêu chuẩn đạo đức mà hành xử. Vì vậy, trước khi công nghệ và văn minh hiện đại thống trị xã hội, hầu hết mọi người đều tín ngưỡng Thần và Thiên quốc, tin tưởng Thần đã cấp cho con người những chuẩn tắc hành vi, cho nên cả xã hội đều hướng thiện tu đức, trong lòng người có chuẩn mực phân biệt thiện ác. Trong bối cảnh xã hội như vậy, hầu hết các tác phẩm nghệ thuật cũng nhằm đánh thức sự thiện lương quang minh của con người, rất hiếm khi khắc họa những thứ âm ám, hình tượng méo mó. Những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp này tỏa ra ánh quang huy của Thần tính, khởi phát ảnh hưởng tích cực đối với quan niệm về thẩm mỹ và đạo đức của con người.

Các tác phẩm nghệ thuật do Đoàn Nghệ thuật Thần Vận tạo ra cũng nhằm mục đích đánh thức thiện niệm của nhân tâm. Các tiêu chuẩn thẩm mỹ của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận hết lòng tuân theo nguyên lý “Thuần Chân – Thuần Thiện – Thuần Mỹ”, không có bất kỳ nội dung u ám hoặc tiêu cực nào. Khả năng đạt được điểm này và sự thành tín xuất phát từ sâu thẳm nội tâm của các nghệ sĩ là không thể tách rời. Các thành viên của Đoàn nghệ thuật Thần Vận tu luyện pháp môn thượng thừa của Phật gia – “Pháp Luân Đại Pháp”. “Pháp Luân Đại Pháp” yêu cầu tu luyện 5 bài công pháp cải biến bản thể, đồng thời yêu cầu tâm tính đạt đến tiêu chuẩn “Chân–Thiện–Nhẫn”. Sự tự giác của người tu luyện giúp cho diễn xuất của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận đạt đến tiêu chuẩn đứng đầu thế giới. Đây là một trong chín đặc điểm khác biệt của Thần Vận so với các đoàn biểu diễn khác. 

Thực ra, nghệ thuật ngay từ lúc khởi sinh đã không thể tách rời tín ngưỡng; trước khi tôn giáo ra đời, tín ngưỡng của con người đối với Thần đã cắm rễ sâu vào sinh mệnh; người người vì tín ngưỡng mà kính sợ, vì kính sợ mà nghe theo Thần cảnh báo và không làm điều ác. Là người nghệ sĩ có phẩm chất đạo đức và tính tự giác cực cao,  tác phẩm họ sáng tác ra cũng sẽ phát tán lực lượng tinh thần quang minh thuần chính, có sức lay động lòng người.

Đăng lại theo sự cho phép của Shen Yun, bản quyền thuộc về Đoàn nghệ thuật Thần Vận Shen Yun
Lê Trần biên dịch