Năm ất-tỵ (945), Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, tự xưng là Bình-vương. Những thổ hào kiệt-liệt như bọn Kiều Công-Hãn, Lý-Khuê v.v…. chia cắt đất-đai, độc-lập từng khu gọi là sứ quân, giang-sơn đâu anh hùng đấy. 

Tới năm Canh-tuất (950), Ngô Xương-Văn mưu cùng chư tướng là Đỗ Cảnh-Thạc và Dương Cát-Lợi đem quân về đánh úp Dương Tam Kha, song nghĩ tình cậu cháu không nỡ giết đi, bèn giáng làm Trương-dưỡng-công. 

Ngô Xương-Văn dẹp được Dương Tam-Kha rồi, xưng Nam-tấn-vương, cùng với anh là Ngô Xương-Ngập xưng Thiên-sách vương cùng coi quản việc nước Tới năm Ất-sửu (965), vua Nam lẩn mất. Con anh là Ngô Xương-Xí lên nối ngôi chủ, nhưng thế lực nhà Ngô bấy giờ đã suy-nhược lăm, không ai chịu phục tùng, nên Ngô Xương Xí phải lui về đóng giữ đất Bình-kiều (?)

Đất Bố-hải-khẩu (Kỳ-bố, Thái-bình) thì có Trần Lãm tự xưng là Trần-minh-công chiếm giữ (2) (Xin xem bản đồ ở dưới. Những số mục đánh đây là dấu-hiệu để đối-chiếu với bản đồ chứ không phải dấu thứ-tự để chủ-giải).  

Đất Đỗ-đỗng-giang (thuộc huyện Thanh-oai) thì có Đỗ Cảnh-Thạc chiếm cứ, xưng làm sứ-quân (3),  

Đất Đằng-châu (Hưng-yên) thì có Phạm Bạch-Hổ xưng là Phạm Phòng-Át, chiếm cứ (4).

Đất Hồi-hồ (Cẩm-khê, Sơn-tây thì có Kiều-Thuận, xưng Kiều Lính Công, chiếm cứ (5). 

Đất Tây-phù-liệt (Thanh-trì, Hà-đông) thì có Nguyễn-Siêu, xưng là  Nguyễn Hữu-Công, bàn-cứ (6).

Đất Tế-giang (Văn-giang, Bắc-ninh) thì có Lữ-Đường, xưng là Lữ Tá-Công, nổi làm sứ-quân (7). 

Đất Tiên-du (Bắc-ninh) thì có Nguyễn Thư-Tiệp, xưng Nguyễn Linh-Công, chiếm đóng (8) 

Đặt Siêu-loại (Thuận-thành) thì có Lý-Khuê xưng là Lý Lãng-Công chiếm giữ (9).  

Đất Đường-lâm (Phúc-thọ, Sơn-tây thì có Ngô Nhật-Khánh. xưng là Ngô Lãm-Công chiếm giữ làm sứ-quân (10). 

Đất Tam-đái (phủ Vĩnh-tường) thì có Nguyễn-Khoan, xưng Nguyễn Thái-Bình, chiếm giữ làm sứ quân (11). 

Đất Phong-châu (Bạch hạc) thì có Kiều Công-Hãn, xưng Kiều Tam Chế, chiếm giữ làm sứ-quản (12). 

Trong 12 sứ-quân ấy tranh-giành lẫn nhau, không ai chịu ai, vì thế trong nước rối-loạn. Khoảng năm Bính-ngọ (946) có Đinh Bộ-Lĩnh húy là Hoàn, người Hoa-lư (1) (Ninh-bình) là con ông Đinh Công-Trứ, cha mất sớm, theo mẹ về ở quê nhà vì bất bình với chú, nên bỏ quê sang Bộ-hà-khẩu (Thái-bình), đưa Trần Minh-Công. Kịp khi Minh-Công chết, Bộ-Lĩnh đem quân và đóng ở Hoa-lư, chiêu-mộ hào-kiệt, hùng cứ một phương.

Năm Tân-hợi (951), Nam-tân vương cùng với Nam-sách-vương đem quân vào đánh không được đến khi nhà Ngô mắt rồi, Đinh Bộ Lĩnh bèn đem quân vây đánh sứ quân là Phạm Phòng-Át, ở Hưng-yên, rồi lại đánh tan được sứ-quân Đỗ Cảnh-Thạc ở Đỗ-đỗng giang (Thanh-oai). Sau lại dần dần dẹp được các sứ-quân khác. Chỉ có một năm mà trong nước được yên, nên chúng đều tôn gọi là Vạn-thắng vương

Đến năm Mậu-thìn (908), Vạn Vạn-thắng vương lên ngôi hoàng-đế tức là Đinh Tiên-hoàng-đế, đổi quốc-hiệu là Đại-Cổ-Việt, đóng đô thành Hoa-lư (Trường-yên, Ninh-bình), làm vua được 10 năm, đến năm Kỷ-mão (979), bị Đỗ-Thích giết. Ngài thọ được 56 tuổi, táng ở trên núi Mã-yên thuộc làng An trạch, tỉnh Ninh-bình, Lăng ngài có sửa lại, hồi năm 1833, 

Đình-thần bắt được Đỗ Thích đem làm tội, rồi tôn con thứ ngài là Đinh-Toàn lên nối ngôi, gọi là Vệ-vương. Vệ-vương còn nhỏ, nên quyền bính đều ở cả trong tay Lê Hoàn. Vì thế, Vệ-vương chỉ làm vua được có 2 năm thì bị Lê Hoàn bỏ làm Phế-đế.

Bản đồ trung châu xứ Bắc kỳ thuộc đời 12 sứ quân (945-968)

Bản đồ cát cứ 12 sứ quân ( Tri tân tạp chí số 42)

Lời chua

1/Hoa-lư (Ninh bình) 

2/Kỳ-bố (Thái Bình) 

3/Đỗ-động-Giang (Thanh-oai) 

4/Đăng châu (Hưng Yên)

5/Hồi-hồ (Cẩm-khê) 

6/Tây-phù-liệt (Thanh-Trì) 

7/Tế-giang (Văn-giang) 

8/Tiên du

9/Siêu loại 

10/Đường-lâm (Phúc thọ) 

11/Tam-đái (Vĩnh-tường) 

12/Phong-châu (Bạch-hạc)

Biệt lam-TRẦN HUY BÁ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)