Mỗi khi Tết đến, kỷ niệm về danh họa Nguyễn Phan Chánh, người đã sống trong ngôi nhà 65 Nguyễn Thái Học, Hà Nội lại tràn về trong ký ức người con gái thứ năm của ông, bà Nguyễn Nguyệt Anh. Danh họa Nguyễn Phan Chánh là người mở đường cho dòng tranh lụa Việt Nam vào đầu thế kỷ 20.

Tên tuổi của cụ Nguyễn Phan Chánh (1892–1984) luôn được những người say mê hội họa nhắc đến với sự kính trọng, niềm cảm phục về con người của ông, cũng như về những tác phẩm thanh tao, mộc mạc và đậm hồn Việt trong tranh của ông. 

Gia đình bà Nguyệt Anh cho biết, khi phong cách phương Tây đã khá thịnh hành tại Việt Nam lúc đó, ông vẫn giữ nguyên sự chất phác đến mức bị gọi là “quê mùa”. Bạn bè cùng Khóa 1 của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương là các họa sĩ nổi tiếng như: Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Mai Trung Thứ… thường nhắc đến ông với hình ảnh một người Việt trong bộ quần áo dài the, đội chiếc khăn xếp, và luôn cắp theo chiếc ô cũ kỹ. 

Lương duyên với tranh lụa?

Khi nhắc đến trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thì phải nói đến người hiệu trưởng đã đặt nền móng đầu tiên cho ngôi trường này, ông Victor Tardieu. Trong số các học trò của ông Tardieu, ‘trò Chánh’ là trường hợp đặc biệt. Khi trúng tuyển vào trường cao đẳng, ông đã ngoài ba mươi tuổi, có lẽ là lớn tuổi trong trường và cũng đã có vợ con. Về căn bản, trường Mỹ thuật Đông Dương giữ đúng tinh thần đào tạo kiểu Pháp, dạy cho sinh viên những kiến thức mới mẻ vào lúc đó như hình họa, giải phẫu cơ thể, luật viễn–cận, vẽ sơn dầu… Những kiến thức này thực sự là xa lạ với học trò người Việt vào lúc đó. 

Việc học vẽ tranh sơn dầu theo phong cách Âu Châu quả là khó khăn với một người vốn giỏi chữ Nho, nghệ thuật thư pháp, và với đôi tay chỉ quen cầm bút lông như ông Phan Chánh. Ông học vẽ đến năm thứ hai vẫn nhận điểm không cho môn hình họa, trong khi các bạn cùng khóa thì đạt điểm 10. Các giáo sư có phần chán nản với việc kết quả học tập của ông nhưng hiệu trưởng Tardieu vẫn kiên trì với ‘trò Chánh’. Điều này chỉ có thể giải thích rằng đó là mối nhân duyên trong cuộc đời và sự cảm thụ tinh tế của thầy Tardieu về tài năng hội họa ẩn sâu bên trong nội tâm của trò Chánh.

Trong một dịp sang Trung Quốc, ông Tardieu đã có dịp thưởng thức những bức tranh lụa phong cảnh theo phong cách từ thời Đường, rồi ông mua một bức tranh lụa làm mẫu và ít vải lụa Vân Nam mang về Việt Nam. Ông đã nghĩ đến trò Chánh và có lẽ ông đã hy vọng…

Trực giác của ông Tardieu đã không sai. Với lụa, trò Chánh đã khắc họa những hình ảnh mang tâm hồn thuần Việt, giản dị với màu của đất, thanh tao trong từng nét vẽ. Ông cũng được nhắc đến với phương pháp “rửa” lụa rất đặc biệt vào lúc đó, giúp mặt tranh trở nên trong và mịn màng. Ông vẽ tranh lên giấy rồi áp vào tấm lụa để in hình, để khô rồi rửa hét lớp gợn của bột màu, sau đó để khô rồi lại quết lên lớp bột màu khác. Lặp lại công đoạn như vậy nhiều lần, để màu phần vẽ mới hòa với màu tranh cũ, cho đến khi ưng ý. Điều này yêu cầu sự nhẫn nại và công phu của người họa sĩ nên có thể cần vài tháng để hoàn thành một bức tranh. Theo phương pháp này, màu được thấm đều cả hai mặt lụa, tựa như là nhuộm màu, hoàn toàn khác với cách vẽ trước đó là vẽ thẳng lên mặt lụa một lần là xong và không rửa lụa. 

Năm 1931, thầy Tardieu đã đem bốn bức tranh lụa đầu tiên của trò Chánh tham dự một buổi đấu xảo tại Paris, và những bức giản dị với phong cách “quê mùa”, thuần Việt ấy đã trở nên rất đặc biệt giữa những tác phẩm hội họa khác theo phong cách Âu Châu. Toàn bộ tranh của ông đã được các nhà sưu tập tranh người Pháp mua hết tại cuộc đấu xảo đó.

Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông được mời làm giáo sư môn Mỹ thuật tại trường Bảo Hộ (trường Bưởi sau này). Một lần, viên Tổng giám thị người Pháp yêu cầu ông vẽ lại một bức tranh mà ông đã hứa bán cho người khác, họa sĩ không nghe theo. Sau lần đó, ông đã bình thản đưa cả gia đình về quê tiếp tục vẽ những người thân yêu của mình, không màng tới thị hiếu đương đại.

Là một họa sĩ được đào tạo bài bản theo chương trình của Âu Châu nhưng tâm hồn Việt và tính cách Việt trong con người của cụ Nguyễn Phan Chánh vẫn y nguyên là vậy. Ông tiếp nhận ảnh hưởng ở nghệ thuật tạo hình phương Tây khi xây dựng tác phẩm của mình, nhưng nội dung của tác phẩm mang tinh thần phương Đông. Các chủ đề chính trong tranh của ông là nông thôn Việt Nam cùng với những nét sinh hoạt, những tập tục và cảnh trí thiên nhiên. Ông thường vẽ phụ nữ, trẻ em trong đời sống thường  nhật của nông thôn Việt Nam… Trong nhật ký của mình, ông hé lộ rằng ông dành mối tình lớn cho người vợ đầu tiên của ông.

Người ấy chính là mẹ của bà Nguyệt Anh, xinh đẹp với những đường nét chuẩn mực: Gương mặt trái xoan, đôi mắt lá răm, lông mày lá liễu, nước da trắng ngần, vóc dáng mảnh mai, đã sinh cho ông sáu người con và một đời tận tụy vì gia đình. Bà qua đời khi mới ngoài 40 tuổi, chưa được hưởng những ngày vinh quang làm vợ một danh họa.

Sau này, công chúng mới vỡ lẽ, danh họa đã vẽ bức tranh lụa “Cô Hàng Xén” là từ những ký ức về người vợ yêu dấu. Bức tranh “Người Bán Gạo” có mức đấu giá đạt 8 tỷ đồng ở Hồng Kông cách đây vài năm cũng là như vậy. Trong tranh, thiếu phụ mặc áo trắng đang đứng đong gạo với chiếc khăn vấn vành nâu, mái tóc đen rẽ giữa, nét mặt thùy mị, thanh tú. Bức tranh đẹp với các mảng màu trắng nâu ấm bình dị, dân dã rất Việt Nam. 

Cả cuộc đời dành cho nghệ thuật, sống một cuộc sống bình dị thanh tao

Năm 1954, họa sĩ Nguyễn Phan Chánh được mời ra Hà Nội làm giảng viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam. Các con của ông may mắn có thời gian dài sống cùng ông ở ngôi nhà 65 Nguyễn Thái Học. Trong ký ức của bà Nguyễn Nguyệt Anh, cả gia đình sống ở một căn phòng nhỏ trong ngôi biệt thự ba tầng ở số 65 Nguyễn Thái Học, danh họa được lũ trẻ con gọi là ông Tiên do có khuôn mặt hiền từ và chòm râu bạc. Ông rất nghiêm khắc với con cái, nhưng với đồng nghiệp, bạn bè, hàng xóm rất điềm đạm, ôn hòa, chuẩn mực. Ông mê hoa đào phai nên Tết nào cũng mua một cành đào to, cắm cao tới tận trần nhà. Ngày Mùng Một, ông hay được các nhà văn Vũ Tú Nam, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm và nhiều hàng xóm nhờ xông nhà. Mỗi khi Tết đến, ông lại viết hai câu đối điều, màu giấy đỏ tươi, nét chữ bay bổng, treo ở ngay cổng để mọi người chiêm ngưỡng. 

“Phòng của cha con tôi ở nhỏ lắm, phần lớn diện tích để dành cho ông sáng tác, có một ban công nhỏ để phơi tranh lụa. Đồ đạc trong nhà giản dị, kỷ niệm nhớ nhất là cha đã nhường cho vợ chồng tôi chiếc giường duy nhất,” bà Nguyệt Anh kể.

Trong cuốn nhật ký, độc giả thấy họa sỹ nhắc nhiều tới kỷ niệm về ba cô con gái giúp ông rửa tranh, phơi tranh lụa với nỗi cực nhọc, vất vả. “Vẽ tranh lụa tỉ mỉ, dày công, và cực nhọc lắm. Nhưng đấy chỉ là chuyện nhỏ thôi,” bà chia sẻ. Bà kể rằng ông thường đạp xe hoặc đi tàu điện xuống các khu lao động để tìm lấy chất liệu, tối về khắc họa lại những khoảnh khắc thiêng liêng, và những khoảnh khắc đó sau này đã trở thành các tác phẩm nổi tiếng, như bức “Hạnh Phúc” (năm 1968) mà gia đình bà Nguyệt Anh vinh dự được ông tặng riêng.

Bức tranh “Hạnh Phúc” của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, sáng tác năm 1968.

Suốt cuộc đời làm nghệ thuật, danh họa Nguyễn Phan Chánh đã để lại một sự nghiệp khoảng trên 170 tác phẩm. Mỗi tác phẩm của ông đều gợi nhắc tên người sáng tác – Nguyễn Phan Chánh – cùng trường phái tranh lụa Việt Nam.

Đến tuổi 80, ông vẫn đưa nét bút êm trên nền lụa nhẹ, khắc họa về con người Việt Nam qua các tác phẩm như Tiên Dung và nàng Kiều bất tử. Con cháu trong gia đình của ông vẫn luôn nhắc đến một câu ông từng nói: “…Một bức họa lụa dù đẹp đến đâu liệu có thể tồn tại mãi. Màu sắc tươi tắn đến mấy rồi cũng phai. Nét vẽ dù đẹp đến mấy cũng không thể giữ mãi. Cái còn lại mãi với thời gian là tình người…” 

Danh họa Nguyễn Phan Chánh đã ghi vào ký ức công chúng như là họa sĩ Việt Nam đầu tiên giới thiệu dân tộc mình với thế giới bằng phong cách tranh lụa ấm áp hồn Việt. 

Mỹ Ngọc
Bài viết có sự đóng góp của phóng viên Vân Ngọc