Sau khi Nguyễn – Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương – chấp – Nhất đánh thuốc độc chết, binh quyền giao cả lại cho Trịnh Kiểm để “phù Lê diệt Mạc”

Nguyễn Hoàng, con Nguyễn – Kim , sợ anh rể âm hại, mới nói với chị là Ngọc – Bảo xin Trịnh – Kiểm cho và trấn phía Nam.

Năm Mậu – Ngọ (1558), Trịnh – Kiểm tâu vua Lê – Anh – Tôn cho Nguyễn – Hoàng vào trấn Thuận – Hóa.

Nguyễn – Hoàng về Thuận – hoá rồi, bề ngoài tuy chưa ra mặt chống với họ Trịnh, nhưng bề trong hết sức lo sự phòng bị, luyện tập quân lính, xây đồn, đắp luỹ, chờ cơ – hội chống nhau với họ Trịnh.

Miền Nam, tuy có nhiều sông nhưng sông không giao – thông với nhau, lòng sông thường có cát nổi, thuyền bè đi lại hay bị ngưng – trệ, cho nên thuỷ – quân không thể bành trướng như ngoài Bắc có nhiều sông to, có kênh – đào liên – lạc. Vì vậy, nhà Nguyễn chú trọng đến việc mở mang lục quân và kiến – thiết các đồn – ải. 

Khi đồn – lũy đã kiên cố, binh lương đã sung – túc, chúa Sãi Nguyễn Phúc – Nguyên, con thứ sáu Nguyễn – Hoàng, mới ra mặt không thần phục họ Trịnh nữa, , và sai tướng chiếm đất Nam – Bố – chính ở phía Nam sông Linh – Giang làm thế ỷ – giốc.

Từ đó họ Trịnh và họ Nguyễn đánh nhau, quyết – liệt trong khoảng 45 năm trên đất Quảng – bình, Hà – tĩnh lúc bấy giờ.

Năm Đinh – mão (1621), Nam – Bắc khởi cuộc binh đao. Trịnh, Nguyễn đều dàn quân bên tả – ngạn sông Nhật – Lệ tục gọi là sông Đồng – hới, có một bức luỹ làm giới hạn.

Tướng Nguyễn chưa kịp sửa soạn, bèn dùng kế phao tin ngoài Bắc có biến. Trịnh – Tráng trong bụng sinh nghi, không biết thực hư thế nào, bèn rước vua Lê và rút quân về Bắc.

Trước lực – lượng của chúa Trịnh, chúa Sãi – Vương bèn nghĩ ngay đến việc phòng thủ, tăng binh – bị, lập đồn ải ở các nơi hiểm – yếu để ngăn quân địch.

Tại biên giới phía Nam, có một hải khẩu thường gọi cửa Sài tức là cửa sông Đồng – Hới. Các chiến thuyền nhà Trịnh muốn vào đất Nguyễn tất phải qua Cửa Sài, cho nên Cửa Sài và vùng lân – cận là một nơi hiểm – yếu : một bên lo phòng giữ và một bên nghĩ phương chiếm – cứ. Vì vậy Sãi – Vương sai quan Nội – tán là Đào – Duy – Từ xây một cái lũy dài ở cửa Nhật – lệ theo dọc bức trường – thành đã đắp tạm từ năm 1627 làm giới – hạn cho hai quân Trịnh – Nguyễn.

Đào – Duy – Từ vốn người làng Hoa – trai, huyện Ngọc – Sơn, phủ Tĩnh – gia, tỉnh Thanh – hoá, vì là con nhà xướng ca Đào – Tá – Hán, nên Từ không được đi thi, phẫn trí vào Nam, tìm đường tiến thân. Chưa gặp được người tiến – cử, Đào – Duy – Từ phải vào ở chăn trâu thuê cho một nhà ở xã Tùng – châu, phủ Hoài – nhân (nay là Bình – định) tựa Bách – lÝ – Hề đời Tần. Duy – Từ làm bài Ngọa – Long – Cương để tự ví mình với Gia – Cát – Lượng bên Tàu. Sau quan Khám – lý là Trần – Đức – Hoà tước Cống – Quận – Công biết Đào – Duy – Từ là người có tài, đem về nuôi, lại gả con gái cho, rồi đưa dâng chúa Sãi. Chúa Nguyễn thu – dụng Duy – Từ, cho làm Nha – uý và Nội – tán, phong làm Lộc – khê – hầu. Đào – Duy – Từ giúp chúa Sãi tám năm thì mất, thọ 63 tuổi.

Thep lệnh Sãi – Vương, năm 1631, Đào – Duy – Từ xây lũy Đồng – hới tức là cái trường – thành ở Quảng – bình bây giờ. Tên chữ là Định – Bắc Trường – thành mà thường vẫn gọi lũy là Lũy – Thầy để kỷ niệm cái kỳ – công của Đào – Duy – Từ đã xây dựng.

Trước khi đắp lũy Đồng – hới, Đào – Duy – Từ đã thân đi xem địa – thế từ cửa sông Nhật – Lệ cho đến núi Hoành – Sơn.

Giải Hoành – Sơn có một ngọn núi cao tên là Đầu – mầu toả làm hai giẫy nối trùng trùng điệp điệp : một giẫy chạy thẳng đến sông Nhật – lệ, về địa phận xã Văn – la  hay Cẩm – la, còn một giải képkéo giài xuống bờ bể thuộc xã Phủ – hội về phía Bắc.

Hai giải núi toả hình như một cái càng cua vây bọc một cánh đồng – bằng bán – nguyệt lầy lội, binh mã không qua lại được, nhất là về mùa đông, nước đồng ứ trệ.

Đào – Duy – Từ dùng quân – sĩ và dân – phu đắp một cái trường – lũy về phía Nam đồng – bằng để ngăn quân Trịnh. Lũy bắt đầu từ cửa Nhật – lệ  vòng xuống Nam, rồi kéo dài sang tây cho đến sát giải núi Hoành – sơn. Trường – thành cao một trượng 5 thước (6 thước tây), ngoài đóng cột gỗ thông, rào kín, trong đắp đất, thành năm bực rộng, voi ngựa có thể riễu qua được. Chiều dài hơn 3000 trượng tức là ngoài 30 lý (27.000 thước tây). Cứ cách 3 hay 5 trượng (12 hay 20 thước tây), dựng một cái chòi, trong đặt súng thần – công lòng rộng. Cách mỗi trượng (4 thước tây) súng hạng nhỏ và chất thuốc lại có súng, đạn cùng chiến – cụ.

Quân địch từ Bắc xuống Nam tất phải do hai đường : phía tây đường núi hiểm trở khó trèo, phía đông, đường theo dọc bể tức là đường quan báo. Còn ở giữa đồng bằng Đồng – hới lầy lội không qua được.

Lũy Đồng – hới là một cái trở lực cho quân miền Bắc không thể theo đường bộ xuống Nam được.

Nhưng nếu quân địch không đổ bộ ở hải – khẩu Nhật – Lệ, mà theo đường thuỷ xuống quá phía Nam, đặt chân lên bãi biển ở phía bắc Cửa Tùng, rồi đánh rồn quân Nguyễn từ Nam lên Bắc. Quân Nguyễn, trước mặt phải đương đầu với quân Trịnh, sau lưng mắc trường lũy Đồng – Hới, còn lối đâu để tháo thân, tất phải ở trong tử địa.

Chiêu – vũ Hầu Nguyễn – hữu – Dật (1) đã nghĩ tới cái nguy cơ ấy, cho nên năm 1633, sai đắp trên bãi bể ở giữa cửa Đồng – Hới và cửa Tùng  (Minh – linh hải môn), một bức luỹ gọi là Trường – sa – Lũy, để trợ – lực – phòng – thủ cho lũy Đồng – Hới.

Một mặt, Nguyễn – cửu – Kiều, trấn – thủ Quảng – Bình, giồng một bức rào gỗ ngay cửa thuyền sông Nhật – Lệ, để ngăn chiến bên địch không vào được.

Lũy Đồng Hới từ đó trở nên một nơi hiểm – yếu ngăn cách hai triều Nam, Bắc.

Nay ta thử xét xem công – dụng bức trường – thành trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh.

Nhà Trịnh thường tấn công vào cuối đông hay đầu xuân. Khi ấy không còn bão nhớn hoặc mưa to mà gió mùa đông – bắc rất tiện cho việc xuôi thuyền từ Bắc vào Nam. Lục – quân và hải – quân theo hai đường thủy, bộ, cùng nhau tiến xuống đến cửa sông Nhật – Lệ, hợp lại, rồi đem hết lực – lượng tấn – công trên bộ và dưới nước. Nhưng trên bộ, quân Trịnh gặp luỹ Đồng – hới và lũy Trường – sa. Dưới nước, lại có thủy quân nhà Nguyễn ứng chiến, mà cửa sông Nhật – Lệ có đóng cọc và chăng dây xích, chiến – thuyền nhà Trịnh không dễ từ ngoài khơi đột – nhập được.

NHẬT NAM

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

  1.  Người xã Gia miêu, huyện Tống – sơn, tỉnh Thanh – hóa, học rộng, tài cao, văn hay, võ giỏi, thực là một bực văn võ kiêm toàn.