ĐOÀN MẪU

Đoàn-Phát là dũng-tướng của vua Lê-Thái-Tổ, thờ mẹ rất hiếu, trước có làm quan nhà Hồ, sau bị Lê-Thiện dùng mẹo đánh bắt được ở đồn Tản-Viên, chịu hàng vua Lê. Khi đó đức Lê-Thái-Tổ đánh nhau với tướng Tầu là Trương-Phụ và Hoàng-Phúc, Đoàn-Phát theo giúp vua Lê, lập nhiều công-trạng to. Tướng Tầu muốn dụ Phát về hàng, mới đem quân vào Thuần-Lộc bắt mẹ Phát, đem về Đông-Đô. Lê-Thiện bấm độn biết như vậy, mới sai Phát đem quân phục, chẹn ở Thân-Phù để đón mẹ. Quả nhiên tướng Tầu qua đó hờ-hững bị quân phục đổ ra diết, Đoàn-Phát phá cũi cứu mẹ ra, quì lạy, hỏi-han, khóc-lóc. Bà cụ chỉ cười ha-hả mà bảo rằng: « Ta chết cũng thỏa đời, ta chết cũng thỏa đời. Ta đây dẫu sống chết kinh-hãi mặc lòng, chẳng hề chột dạ, ta coi cái chết như không, mày sao nhát quá làm vậy? Trước kia mày thờ nhà Hồ, trong bụng ta thường áy-náy mãi. Nay gặp ông Lê-Lợi là một vị thánh-quân, ta cũng mừng cho mày. Ta tưởng hôm nay được ra Đông-Đô, mắng cho Trương-Phụ, Hoàng-Phúc một phen, chết cũng sướng đời. Không ngờ gặp mày ngăn về, thế thì bụng ta sao được thỏa ». Rồi Phát lậy tạ, đưa mẹ về Nghĩa-An ra mắt vua Lê. Lê-Lợi khen rằng: « Lão-mẫu thực là trung-liệt, so với mẹ Vương-Lăng, Nguyên-Trực ngày xưa, cũng không kém gì! »

LÒNG CHUNG VỚI BẠN

Hồ-Quý-Ly cướp ngôi nhà Trần làm vua, một hôm ra cửa bể Độc-Bộ Nam-định chơi, và đi tầm-nã các con cháu nhà Trần giết sạch; lại chuyền dân-dã, ai bắt được dòng dõi nhà Trần thì thưởng, ai dấu-chứa, chị tội ba họ. Bấy giờ có Trần-Kiểu là cháu vua Trần-Anh-Tôn, chốn nạn ở nhà Phan-Thế-Thúc, ở chại An-Giang, huyện Đại-An, Nam-định. Nghe tin Quý-Li tầm-nã, dận lắm, mới sai mời người bạn thiết ở làng Nhân-Chạch là Võ-duy-Dương đến để bàn việc. Khi Dương đến, Kiểu khóc ầm lên, và sin bạn báo-thù. Dương đáp: « Ngựa gập Bá-Nhạc mới gầm hét khoe tài, người gặp tri-kỷ mới liều thân báo-đáp, nay Công tử ngỏ nhời, tôi sin tận chung, dù chết cũng cam tâm ». Nói rồi từ-tạ ra về. Một hôm dò biết Quý-Ly sắp lên núi Thôi-Ngôi vãng cảnh chùa. Dương liền dắt ngọn dáo dài, nấp trong bụi dậm trên núi chờ. Quý-Li vô tình lên núi, Dương nhẩy sổ ra đâm một nhát vào mặt, không ngờ đâm chượt trên mũ. Quý-Li dật mình ngã quay xuống, võ-sĩ đổ sô vào bắt được Dương. Quý-Li sai căng-nọc khảo-tấn, hỏi ai sui mày làm như vậy? Dương đáp: « Tao cốt báo-thù cho con cháu nhà Trần, tức rằng không giết được mày, tiếc quá! » Quý-Li hỏi: « Con cháu nhà Trần là ai? » Dương đáp: « Trăm họ nước Nam, là con cháu nhà Trần cả, chứ ai ». Quý-Li sai đánh, máu chẩy đầm-đìa, hỏi đứa này sui mày? Dương chợn mắt đáp rằng: « Giời sui tao giết đứa vô đạo, chớ ai sui ». Quý-Li sai lấy kìm sắt bẻ hết răng; lại hỏi đứa nào sui mày? Dương cũng nhất-định không sưng. Quý-Li sai chặt hết chân tay. Dương ngất người đi, tỉnh dậy bảo: « mày tha tao ra, tao sẽ nói ». Quý-Li sai tha. Dương ngảnh mặt về làng Tức-mặc lạy hai lạy, nói rằng: « Tôi thề sống không giết được dặc, chết cũng sin làm quỷ dữ, mà ăn thịt thằng Quý-Li ».

Nói song đập đầu vào đá, vỡ óc chết. Trần-Kiểu nghe tin bạn như vậy, lăn-khóc thảm-thương, rồi chốn sang nước Lão Qua. Dòng-dõi nhà Trần, còn sót lại từ đó.

HẠNG-THÁC

Đức Khổng-Tử một hôm, đem các học-trò theo ngồi trên xe đi chơi. Dữa đường gập lũ trẻ con đang nô-đùa, trong bọn có một đứa trẻ mặt mũi khôi-ngô, đứng im không đùa. Khổng-Tử dừng xe lại hỏi: đứa trẻ sao không vui đùa? Đứa trẻ đáp: « Đùa là vô-ích, áo rách khó vá, trên buồn lòng cha mẹ, dưới sô-đẩy với anh em, vừa nhọc mà không bổ-ích, hay gì mà chơi, nên không chơi ». Nói song cúi đầu nhặt ngói đắp nên một cái thành dữa đường. Khổng-Tử mắng: « Sao mày không chánh xe ». Đứa trẻ đáp: « Từ xưa đến nay, xe phải chánh thành, có bao giờ thành lại phải chánh xe ». Khổng-Tử xuống xe bảo rằng: « Mày hãi còn trẻ tuổi mà sao làm chuyện dả-dối vậy? » Đứa trẻ đáp: « Người sinh ba tuổi, đã biết có cha mẹ; con thỏ sinh được ba ngày, đã biết chậy đi; con cá sinh ba ngày, đã biết bơi nơi dang hồ, ấy là phép giời tự nhiên, sao lại bảo là dả-dối được ». Khổng-Tử nói: « Mày ở quê nào, tên gì, họ gì? » Đứa trẻ đáp: « Tôi họ Hạng tên Thác, quê ở Phiên-Hương ». Khổng-Tử nói: « Ta muốn đem mày đi chơi, bằng lòng chăng? » Thác nói: « Tôi còn cha già, còn ở nhà phải thờ-phụng; tôi còn mẹ hiền, còn ở nhà phải kính nuôi; tôi có anh hiền, còn ở nhà phải kính thuận; tôi có em ngu, còn ở nhà phải dậy bảo; tôi có thầy học, còn ở nhà phải học tập, không thể đi chơi được ». Khổng-Tử nói: « Trong xe ta, có 32 con cờ, mày đánh cờ với tao, bằng lòng không? » Thác nói: « Thiên-tử mà cờ bạc thì bốn bể không yên; chư-hầu mà cờ bạc thì loạn cương-kỷ, học trò mà cờ bạc thì bài vở sao-nhãng; tiểu-nhân mà cờ bạc thì nhà cửa bần-bách; nô tì mà cờ bạc thì phải đòn vọt; làm ruộng mà cờ bạc thì cầy cấy mất mùa, vậy thì tôi không thể chơi cờ với ngài được ». Khổng-Tử nói: « Tao với mày muốn ra bình thiên hạ, ý mày thế nào? » Thác đáp: « Thiên-hạ thì bình làm sao được, có núi cao, có sông hồ, có Vương-hầu, có tôi tớ. Núi cao mà bình thì chim muông ở vào đâu? Sông hồ mà bình thì cá dải ở vào đâu? Vương-hầu mà bình thì dân trông vào đâu? Tôi tớ mà bình thì lấy ai sai khiến? Thế thì bình làm sao được? » Khổng-Tử hỏi: « Thế mày có biết lửa nào là không có khói, nước nào mà không có cá, núi nào không đá, cây nào không cành, người nào không vợ, vợ nào không chồng, châu nào không sừng, ngựa nào không vó, đực nào không cái, cái nào không đực, thế nào là quân-tử, thế nào là tiểu-nhân, thế nào là không đủ, thế nào là có thừa, thành nào không chợ, người nào không chữ? » Thác đáp: « Lửa đom đóm không có khói, nước giếng không có cá, núi đất không đá, cây khô không cành, người tiên không vợ, ngọc nữ không chồng, châu đất không sừng, ngựa gỗ không vó, đực góa không cái, cái góa không đực, hiền gọi quân-tử, ngu gọi tiểu-nhân, ngày đông không đủ, ngày hạ có thừa, thành vua không chợ, kẻ dốt không chữ. » Khổng-Tử lại hỏi: « Mày có biết giời đất thế nào là kỷ-cương, âm dương, thế nào là chung thủy, đâu là tả, đâu là hữu, đâu là trong, đâu là ngoài, ai là cha, ai là mẹ, ai là chồng, ai là vợ, gió tự đâu mà lại, mưa tự đâu mà đến, mây tự đâu mà ra, sương tự đâu mà bốc, giời đất xoay vần bao nhiêu dậm? ». Thác đáp: « chín chín tám mươi mốt, là kỷ-cương giời đất; tám chín bẩy mươi hai, là âm dương chung thủy; giời là cha, đất là mẹ, mặt giời là chồng, mặt giăng là vợ, đông là tả, tây là hữu, trong là trong ngoài là ngoài, gió tự hang mà lại, mưa tự mây mà đến, mây tự núi bể mà ra, sương tự đất mà bốc, giời đất xoay vần có nghìn nghìn vạn vạn dậm, biết đâu mà kể ». Khổng-Tử lại hỏi: « Mày bảo cha mẹ thân hay vợ chồng thân? » Thác nói: « Cha mẹ thân hơn vợ chồng. » Khổng-Tử nói: « Vợ chồng sống cùng chăn, chết cùng huyệt, sao lại bảo cha mẹ thân hơn? » Thác nói: « Người không vợ như xe không bánh. Không bánh bảo làm thì được bánh; vợ chết lại lấy, lại có vợ, gái ngoan tất tìm chồng đảm, một sóm 10 nhà, tất có nhà khá; 3 cửa sổ, sáu dèm cheo, không bằng một ánh sáng cửa lớn; muôn sao sáng không bằng một giăng sáng, công đức cha mẹ, sao lại không thân? » Khổng-Tử khen rằng: « Đây quả thực là người hiền, thực là người hiền! » Thác nói: « Thưa ngài, ngài hỏi tôi điều chi, tôi đều giả lời hết, nay tôi muốn hỏi lại ngài một điều, sin ngài chỉ bảo: Ngỗng, vịt tại sao mà nổi; hồng nhạn tại sao mà kêu to, tùng bách tại sao mà đến mùa đông lại xanh? » Khổng-Tử đáp: « Ngỗng vịt nổi là tại chân vuông, hồng nhạn kêu to là tại cổ dài, tùng bách đông xanh là tại duột đặc. » Thác nói: « Ngài dậy sai, không phải, thế con cá, con dải, chân vuông đâu mà cũng nổi, con cóc con ễnh ương, cổ dài đâu mà cũng kêu to, cây cây trúc duột đặc đâu mà cũng đông xanh. » Rồi lại hỏi rằng: « Thưa ngài, trên giời nhay-nháy có bao nhiêu sao? » Khổng-Tử nói? « Hãi cứ nói việc dưới đất, biết đâu việc trên giời ». Thác nói: vâng thế thì dưới đất nhung-nhúc có bao nhiêu nhà? » Khổng-Tử nói: « Hãi nói chuyện trước mắt, việc gì nói những việc đâu đâu ». Thác nói: « Vâng, thế thì trước mắt ngài đây, trên mi tôi có nhiêu lông mày? » Khổng-Tử cười mà không đáp, ngảnh lại bảo các học-trò rằng: « Hậu sinh khả úy ». Rồi ngài lên xe đi.

Theo CỔ NHÂN ĐÀM LUẬN