BÁ NHA, TỬ KỲ.

Chung-Tử-Kỳ ở đời xuân-thu, sành nghề đàn, một hôm Bá-nha gảy đàn bụng nghĩ trên núi, thì Tử-Kỳ khen: « Đàn nghe chót vót như núi cao ». Bá-Nha lại nghĩ dưới sông, Kỳ lại khen rằng: « Đàn nghe cuồn-cuộn như nước chảy ». Đến khi Tử-Kỳ chết, Bá-Nha đập Đàn, dứt dây, từ đó thề không đàn nữa, mà bảo rằng: « Trong thiên-hạ không còn có ai là kẻ chi-âm mà nghe được đàn ta nữa ». Ôi! Bá-nha mất Tử-Kỳ, thế-giới thực là một nơi sa-mạc.

NỢ LIỄU THĂNG.

Nguyên trước vua Lê-Thái-Tổ nước ta, đánh nhà Minh, đuổi quân Tầu, có chém chết Đại-Tướng Minh là Liễu-Thăng. Khi dảng hòa, nộp cống, người Minh vẫn bắt đúc người vàng sang nộp, chải đến nhà Mạc, nhà Lê-Trung-Hưng, chiều nào cũng vẫn phải giữ lệ đó, lại còn bắt đem cống cả mấy chum nước giếng Cổ-Loa để rửa hạt châu. Sau đến lượt chúa Trịnh sai quan Thượng-Thư Nguyễn-Công-Hãng sang sứ, thì ông Hãng sin chúa cứ bãi phăng cái lệ nộp người vàng, và mấy chum nước diếng thì ông lấy nước suối cho vào đem sang Tầu cống. Khi đó bên Tầu nhà Thanh đã đánh đổ nhà Minh rồi. Sang đến nơi, vua Thanh hỏi ông Hãng người vàng đâu? Ông đáp: « Liễu-Thăng là tướng nhà Minh, bây giờ là nhà Thanh thống-thuộc muôn nước, nay cứ khư khư theo thói đòi hối lộ như người Minh trước, thì kích-khuyến sao được người sau? Vua Thanh sai lấy nước diếng dửa thử hạt chai không thấy sáng, hỏi ông, ông đáp: « Bởi đi lâu ngày, nên nước biến mùi như vậy ». Vì ông cãi lẽ thế, nên từ đó hai cái lệ cống đó mới bãi đi được.

LÊ TUẤN-MẬU

Ông Mậu làm quan Thượng-Thư chiều Lê. Khi còn nhỏ ông rất chăm học, ăn rất khỏe, mỗi ngày ăn hết năm đấu gạo, học suốt năm canh. Ông vào hầu vua thường thấy Mạc-Đăng-Dung, chỉ xuất thân là anh đánh vật mà được vua yêu dùng, cho làm quan to, Ông tâu với vua Lê rằng: « Đăng-Dung xuất thân hèn-hạ mà được cầm quyền lớn, tôi coi nó có tướng làm phản, xin bệ-hạ nên dữ mình, chớ cho ở gần » Rồi ông nhiếc Đăng-Dung rằng: « ngươi chớ có cậy là vật khỏe, đây ta không thèm đó thôi. » Đăng-Dung tức lắm, xin vua cho phép vật. Ông hăng-hái xin vâng ngay, búi tóc độn kim, cổi áo vào vật, chỉ một keo là Đăng-Dung ngã-quay xuống đất, ông chẹn ngay vào cổ họng, nói to lên rằng: « Giết được thằng giặc này, tuyệt được cái lo về sau, là ở keo vật này đây. » Vua thấy Đăng-Dung nguy, vội xuống ngai bắt ông phải buông ra. Ông tức mình cáo quan về nhà. Sau quả-nhiên Mạc-Đăng-Dung cướp ngôi nhà Lê lên làm vua, cho mời ông ra làm quan, để thu-phục nhân tâm; ông dả vờ làm ra tật thông manh, sai người dắt vào triều. Đăng-Dung mừng lắm. Ông nói là thông-manh, xin phép cho đến gần vua để chiêm-cận. Khi đến ngai vàng, ông nhổ ngay vào mặt Đăng-Dung chợn mắt mắng rằng: « Thằng phản-quốc kia, diết vua cướp nước, dẫu chó lợn cũng không thèm ăn lộc của mày, nữa là tao, đường đường một vị Lê-thần, lại thèm làm bầy-tôi mày hay sao? ». Nói xong đập đầu chết. Đăng-Dung thương là trung-nghĩa, thảo sắc phong tặng, cho rước về làng, đến nửa đường sét đánh cháy tờ sắc.

 

LỮ-BẤT-VI

Dị-nhân là công-tử nước Tần, bị nước Triệu bắt giữ làm con tin. Một hôm ra chợ chơi, gặp một người lái buôn là Lữ-Bất-Vi, Vi xem tướng biết sau có thể làm đến Hoàng-Đế, vội xếp đồ hàng lại về hỏi cha rằng: « Làm ruộng thì lời mấy bội? » Cha đáp: « Thập bội ». Vi lại hỏi: « Thế thì buôn châu ngọc lời mấy bội? » Cha đáp: « Bá bội ». Vi lại hỏi: « Thế còn lập vua định nước, tôi nay muốn buôn một vị đế-vương, thì lời mấy bội? ». Người cha ngạc-nhiên bảo: « Nếu con mà làm được thế thì lời không biết đâu mà nói. » Vi liền phí nghìn vàng, tiêu hết gia tài, lại lập kế ép gả cả vợ đã có mang hai ba tháng cho Dị-nhân, rồi sang Tần luồn-lọt lo được đến đánh tháo Dị-nhân ở Triệu về làm vua nước Tần, Lữ-bất-Vi được phong làm Thừa-Tướng, được phép mang gươm lên điện, ra vào trong cung tự-do, sau lại nối lập con vua là Tử-Chánh tức là Tần-Thủy-Hoàng lên ngôi. Thủy-Hoàng tức là con Lã-Bất-Vi, việc kín đó duy có một mình Vi biết. Nguyên nhà Tần là họ Doanh, vì vậy đời sau có câu: Tần dĩ Lữ diệt Doanh là chuyện này vậy. Xem câu chuyện này thực Lã-Bất-Vi dan-hùng có một, và là một bác lái buôn khác hết mọi kẻ xưa nay.

TIẾNG CƯỜI ĐỔ QUÁN

Vua U-Vương nhà Châu yêu quý nàng Bao-Tự đến nỗi để Bao-Tự cướp ngôi Chánh-Hậu mà Bao-Tự cũng chưa được vui lòng. Cả ngày không cười bao giờ. Vua truyền hễ ai làm cho Hoàng-Hậu cười được một tiếng sẽ thưởng cho nghìn cân vàng. Còn Bao-Tự chỉ cả ngày thích nghe tiếng sé lụa soạc soạc, mỗi ngày cung-nga sé đến 100 tấm lụa bên tai, mà cũng không vui cười. Sau có quan nịnh-thần là Quách-Thạch-Phú dâng kế rằng: Tại núi Ly-sơn có 10 cái phong-hỏa-đài, vào có mấy mươi cái trống rất lớn, nguyên của các Tiên-Vương đặt ra, phòng khi giặc Tây-Nhung hoặc có truyện gì cần-cấp, sẽ đốt đài ấy lên, lửa khói thấu giời, nổi trống lên như sấm, cho các chư-hầu hay mà đem binh đến cứu, đã bao lâu nay chưa bao giờ dùng tới, Bệ-hạ nên cùng với Hoàng-Hậu ngự tới đó, bầy tiệc yến vui chơi, rồi sai đốt đài, đánh trống, binh các chư-hầu tất phải hấp-tấp đến ngay, đến nơi không có giặc-dã chi, lại lủi-thủi mà về, chắc là Chánh-Hậu phải tức cười. » U-Vương nghe nhời, đến tối cùng Bao-Tự ngự ra Ly-Cung rồi đang đêm sai đốt Hỏa-Đài và nổi trống, lửa cháy đỏ giời, trống vang dậy đất, các chư-hầu lục-tục kéo binh đến. Tới nơi chỉ thấy trên lầu vua cùng Bao-Tự đang yến tiệc. Các chư-hầu đều tưng-hửng nhìn nhau rồi lại dẹp cờ quốn trống đâu về đấy. Bao-Tự trên lầu ngó xuống, thấy các chư-hầu hấp-tấp kéo đến lại hồng-hộc kéo về, bấy giờ mới cười một tiếng dài. U-Vương mừng nói « Nay được Ái-Khanh cười một tiếng, xem càng sinh tốt muôn phần, hả lòng trẫm quá, ấy là nhờ sức Thạch-Phủ đó. » Rồi lấy ngàn vàng mà thưởng Phủ. Đến nay có câu, ngàn vàng mua một tiếng cười là tích này vậy. Mấy năm sau có Nhung-Chúa đem binh đánh, vua U-Vương phải bỏ cả cung-điện chạy, đốt Hỏa-Đài lên chẳng ai đến cả, đến nỗi U-Vương mất nước bị diết chết, ấy cũng vì một tiếng cười của Bao-Tự mà nước mất thân tan.

Theo CỔ NHÂN ĐÀM LUẬN