Theo truyền thuyết, Liễu Hạnh công chúa là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng Đế, đã ba lần giáng hạ xuống nước Nam. Từ thời nhà Hậu Lê đến nhà Nguyễn, Bà đã được cấp phong nhiều Sắc, tôn vinh là bậc “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân”.

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch tại Phủ Dầy tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. (Ảnh: Wikipedia)

Dân tộc ta với nguồn gốc con Rồng cháu Tiên là dấu tích rõ ràng nhất cho sự tồn tại của Thần và Thiên thượng phản ánh tại nhân gian. Trong suốt chiều dài lịch sử, Thiên thượng đã nhiều lần triển hiện Thần tích giúp dân tộc vượt bao gian nguy mà vững bước trường tồn. Đặc biệt trong thời gian lâu dài đó có bốn vị Thần cổ xưa luôn giúp đỡ bảo vệ nước Nam, gọi là “Tứ Bất Tử”. Trong bốn vị này có duy nhất một người là nữ giới, đó là Thánh mẫu Liễu Hạnh. 

Do nhiều lần giáng trần, Liễu Hạnh công chúa là vị Thần tiên gần gũi và để lại nhiều câu chuyện trong lịch sử Việt Nam. Những lần gặp gỡ đầy thi vị của bà với Trạng Bùng đã để lại cho đời những câu chuyện truyền kỳ với bao vần thơ Tiên tuyệt đẹp.

Ba lần giáng sinh nơi trần thế

Lần đầu tiên: Bà giáng sinh vào gia đình ông Phạm Huyền Viên tại thôn Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Thái An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam (nay là huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Bà tại thế từ năm Giáp Dần, niên hiệu Thiệu Bình nguyên niên (năm 1434) cho tới năm Quý Tỵ niên hiệu Hồng Đức thứ 4 (năm 1473). Ở đời này Bà là người con hiếu thảo, luôn thờ phụng cha mẹ cho đến khi trở về Thượng giới.

Lần thứ hai: Bà giáng sinh làm con gái của ông Lê Đức Chinh, ở xã Vân Cát, huyện Vụ Bản, phủ Nghĩa Hưng, được cha mẹ đặt tên là Lê Thị Giáng Tiên, tự Liễu Hạnh. Tới tuổi trưởng thành Bà được gả cho Trần Đào Lang ở thôn An Thái, sau sinh được một trai tên là Nhâm. Ở kiếp này, Bà giáng hạ vào đời Lê Trung Tông (năm 1555) và quy tiên vào ngày mùng 8 tháng 3 âm lịch (năm 1577, đời Lê Thế Tông).

Lần thứ ba: Bà giáng sinh tại xã Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa, lấy chồng họ Mai, sinh được một trai tên là Cổn. Nhưng chỉ hơn một năm sau đó Bà rời cõi trần trở lại Thượng giới.

Mỗi lần giáng sinh bà đều dạy dân hành thiện, sống đời đạo đức. Từ lần thứ ba trở đi, bà hóa thân đi chu du khắp nước, không chỉ nhiều lần thi triển thần thông mà còn để lại biết bao thần tích và giai thoại. Các triều đại từ thời Lê trở về sau đều có ghi sự tích của bà.

Thời gian trôi qua, dân gian ngày càng tín ngưỡng Công Chúa Liễu Hạnh, tục gọi là Bà Chúa Liễu. Họ đã lập đền thờ khá trọng thể ở Phủ Giầy, Nam Định, cũng như ở Phố Cát và Đền Sòng tại Thanh Hoá.

Tiên phàm họa thơ một đêm trăng, lòng trần vương dấu phủ Tây Hồ

Khi hiện thân ở nước ta, Liễu Hạnh tiên chúa mang hình tượng của một nữ thi sĩ uyên bác để lại nhiều bài xướng họa. Theo “Nam Hải Dị Nhân” của Phan Kế Bính thì người được Thánh mẫu đối đáp thơ văn nhiều nhất là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.

Vốn là bậc trí thức văn nhã, Phùng Khắc Khoan thường vãn cảnh Tây Hồ để ngâm thơ thưởng nguyệt. Một lần khi đang lênh đênh du ngoạn Hồ Tây cùng hai người bạn, một người là cử nhân Ngô Trường Sinh, còn người kia là tú tài Lý Hạ, ông bỗng thấy một khóm cây đào xanh tốt um tùm. Ba người bạn bèn lên thuyền vào trong thì thấy có một tòa lầu gác rất u nhã, trên cửa đề bốn chữ “Tây hồ phong nguyệt” (trăng gió hồ Tây) và hai bên có đôi liễn viết lối chữ thảo:

“Hồ trung nhàn nhật nguyệt
Thành ngoại tiểu càn khôn”

Dịch nghĩa:

Trong hồ nhật nguyệt nhàn
Ngoài thành vũ trụ nhỏ

Trước lầu có che một bức mành mành, thấp thoáng bên trong là bóng thiếu nữ mặc y phục màu đỏ. Tú tài Lý cất tiếng hỏi:

-Chỗ lâu đài này có phải là cảnh tiên không? Anh em chúng tôi vô tình lỡ bước tới đây, muốn mượn cảnh này làm chỗ Lan đình thắng hội, không biết tiên nữ có dung cho hay không?

Thiếu nữ bèn đáp:

-Chỗ này không phải phàm trần, nếu các ông quả là bậc phong nhã thì tôi đây cũng không hẹp gì.

Ba người bèn đậu thuyền bước lên rồi lần lượt bước vào tòa lầu. Thoạt nhìn lên tường thấy có dán một bài thơ tứ tuyệt nét mực còn tươi, chữ viết đẹp như rồng bay phượng múa:

“Điếm phương môn nội chiếu minh nguyệt
Thời chính nhân bàng lập thổ khuê
Khách hữu tam tinh câu nguyệt đối
Huệ nhiên nhất mộc lưỡng nhân đề”

Dịch thơ:

Cửa quán là đây trăng sáng soi
Bên mành ai đứng đợi chờ ai
Khách đến ba người thừa đội nguyệt
Một cây huệ mọc giữa hai ngài

Đây là một bài thơ chơi chữ rất hay:

“Điếm phương môn nội chiếu minh nguyệt”
(Cửa quán là đây trăng sáng soi)

Chữ “Môn” (門) có ánh trăng chiếu vào thành chữ “Nhàn” (閒). Chữ “Chiếu” (曌) gồm có chữ “Minh” (明) cấu thành từ hai chữ “Nhật” và “Nguyệt”, bên dưới là chữ “Không” (空), có thể gọi là Nhật Nguyệt Đương Không (mặt trời và trăng trên không). Ý câu này là Điếm môn nhàn (quán đang vắng vẻ). Nhưng bởi có chữ Chiếu bên trên cùng với chữ Minh Nguyệt nên còn có ẩn ý là chủ quán không phải người phàm, vốn từ thiên thượng xuống đây.

“Thời chính nhân bàng lập thổ khuê”
(Bên mành ai đứng đợi chờ ai)

“Nhân bàng” là chữ Nhân đứng bên cạnh (亻), “lập Thổ Khuê” nghĩa là hai chữ Thổ chồng lên nhau thành chữ “Khuê” (圭). Chữ Khuê ghép với chữ Nhân đứng thành chữ “Giai”, nghĩa là đúng lúc, tốt đẹp. Ý câu này nghĩa là Thời chính giai (thời tiết đẹp)

Câu này hàm ý còn sâu hơn, vì chữ “Khuê” (圭) nghĩa là ngọc khuê, là chỉ người chức cao được vua ban tước (Trong Chu Sách Nhất có ghi: “Công tước vi chấp khuê, quan vi trụ quốc”, nghĩa là: Tước của ông vào hàng cầm ngọc khuê, chức của ông vào hàng trụ quốc). Như vậy, câu thơ có ý nói rằng trong ba vị khách tất có một người là quan to của triều đình, ngầm chỉ Phùng Khắc Khoan. Hai chữ “Thổ” chồng lên nhau mới ra chữ “Khuê”, ý nói rằng hai người bạn đi cùng dẫu là về chức vị hay học vị thì đều không sánh bằng vị quan này. Hai bên chưa từng gặp mặt, mà biết luôn lai lịch của khách đến thì quả thật là tiên nhân rồi.

“Khách hữu tam tinh câu nguyệt đối”
(Khách đến ba người thừa đội nguyệt)

“Tam tinh câu nguyệt” là chiết tự của chữ “Tâm” (心), gồm có 3 chấm và một móc câu như hình mặt trăng. Như vậy câu này là “Khách hữu tâm” (Khách có tâm). Chữ “Tinh” (星) hay (菁) nghĩa là ngôi sao, cũng có nghĩa là ánh sáng, tinh thể, chỉ người có trí tuệ. Hàm ý câu này là ba vị khách tài năng hôm nay gặp được vầng trăng (vầng trăng chỉ Liễu Hạnh, khách đến từ trời).

“Huệ nhiên nhất mộc lưỡng nhân đề”
(Một cây huệ mọc giữa hai người)

“Nhất mộc” là một chữ “Mộc” (木), ghép với “lưỡng nhân” tức là hai chữ “Nhân” (人) thì tạo thành chữ “Lai” (來). Chữ “Huệ” (慧) là trí huệ, “Nhiên” (然) là đúng, đồng ý. Câu thơ ý nói rằng những người này do có ngộ tính (trí huệ) nên mới có duyên kỳ ngộ gặp được Tiên nhân. 

Cả bài thơ tựu trung lại là:

“Điếm môn nhàn
Thời chính giai
Khách hữu tâm
Huệ nhiên lai”

Tạm dịch:

Quán đương vắng
Thời tiết đẹp
Khách có lòng
Mời vào chơi

Ba vị khách còn đang gật gù khen ngợi bài thơ tuyệt diệu thì bỗng có cô hầu gái xinh đẹp đến dâng khay rượu, ở trên bày ba cái chén và một ve rượu kèm theo tờ thiếp.
Phùng Khắc Khoan đọc xong rồi đưa cho hai bạn, trên thiếp đề câu thơ:

“Tây Hồ biệt chiếm nhất hồ thiên”
(Tây Hồ riêng chiếm một bầu trời)

Ba văn sĩ hiểu ngay ý của chủ nhân là muốn mở đầu bài thơ liên cú viết về Hồ Tây nên họ rất hào hứng. Cả ba vừa nhấp rượu vừa lần lượt mỗi người hai câu, người này nối tiếp người kia, chẳng mấy chốc đã có ngay một bài dài. Gần đến đoạn kết, bỗng từ phía sau song cửa vang lên giọng thơ trong trẻo của một cô gái trẻ:

“Đắc nguyệt ưng tri ngã thị tiên”
(Trăng tròn soi một bóng tiên thôi)

Ba nhà thơ không ai bảo nhau nhưng cùng lúc đập tay xuống bàn khen cho câu kết tuyệt cú. Họ gặp người hầu gái, xin được gặp chủ nhân nhưng người hầu gái trước sau một mực thưa rằng:

– Liễu chủ nhân có việc bận xin được cáo lỗi.

Ngồi thêm một lúc, cả ba người đành ra về trong nỗi niềm bâng khuâng luyến tiếc cái duyên kỳ ngộ hy hữu trên đời.

Mấy ngày sau, Phùng Khắc Khoan và hai người bạn lại rủ nhau đến thăm chốn cũ. Nhưng khi đến nơi thì lầu gác đã không còn, chỉ thấy trên thân cây bên chỗ xưa một bài thơ ai dán sẵn:

“Vân tác y thường phong tác xa
Tiên du Đâu Suất mộ yên hà
Thế nhân dục thức ngô danh tính
Nhất đại sơn nhân Ngọc Quỳnh Hoa”

Ngô và Lý hỏi Phùng Khắc Khoan về ý nghĩa bài thơ. Phùng Khắc Khoan suy nghĩ một chút rồi trả lời:

Hai câu đầu của bài thơ ý tứ rõ ràng là mô tả về người con gái đó: “Lấy mây làm xiêm áo, lấy gió làm xe, sáng đi chơi Đâu Suất, chiều ngao du yên hà”. Đích thị là người nhà Trời. Rồi thì “Người đời ai muốn biết họ tên ta” thì dùng kiểu chiết tự để đoán: chữ “Nhất” (一) ghép với chữ “Đại” (大) sẽ thành chữ “Thiên” (天), chữ “Sơn” (山) ghép với chữ “Nhân” (人) sẽ thành chữ “Tiên” (仙). Câu cuối cùng trở thành: Thiên tiên Ngọc Quỳnh Hoa (Ta là tiên nữ Ngọc Quỳnh Hoa trên thiên thượng).

Sau này để tưởng nhớ Tiên duyên ấy, Phùng Khắc Khoan đã cho dựng lên trên nền đất cũ của quán “Tây Hồ phong nguyệt” một ngôi đền thờ Tiên Chúa Liễu Hạnh để ghi lại kỷ niệm lần thứ hai gặp Bà.

Nằm ngay bên bờ Tây Hồ xinh đẹp, giữa cảnh quan thơ mộng của kinh thành Đông Đô, ngôi đền qua mấy trăm năm chiến loạn vẫn trầm mặc nằm ở đó. Đó chính là Phủ Tây Hồ trên bán đảo Tây Hồ thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội (xưa thuộc làng Tây Hồ, thôn Quảng Khánh, xã Quảng An).

Liễu Hạnh công chúa và các giai thoại liên quan đến bà là những câu chuyện thần tiên gần nhất còn được lưu truyền gần như nguyên vẹn đến hôm nay. Âu cũng là ý Trời muốn hé lộ cho con người biết sự tồn tại của Thiên thượng mà bớt ngông cuồng phóng túng chăng?

Tĩnh Thủy