Truyền thuyết kể rằng, hoa sen vốn không phải là loài hoa ở trần gian mà là thứ hoa ở thiên thượng. Hoa sen trong Phật gia được coi là thánh vật. Từ tranh, tượng, kiến trúc… bất cứ nơi nào có hình tượng Phật đều gắn với hoa sen. Kinh Phật dùng hoa sen để biểu tượng cho sự thù thắng của Phật môn, ẩn dụ cho vô thượng chí cao của Phật Pháp. 

Điềm Trời sinh bậc Thánh

“Liên hoa mộng ứng Thiên sinh Thánh” – Giấc mộng hoa sen ứng với điềm Trời sinh bậc Thánh. Tương truyền, trước khi Đức Phật giáng sinh, mẫu thân của Ngài là hoàng hậu Ma Da từng nằm mơ thấy một con voi trắng mang theo đóa sen cũng màu trắng. 

Hoa sen trắng. (Ảnh: Phuong Luu/Pixabay)

Trong kinh Phật có ghi lại rằng: trước khi xuất gia, Thích Ca Mâu Ni là thái tử của Vương quốc Ca-tỳ-la-vệ. Khi Phật đản sinh đến thế gian, trên trời có đoàn tiên nhạc ca hát, rải hoa, và có rất nhiều các chư thiên thần đến hộ Pháp. Khoảnh khắc huy hoàng đó có vô vàn tia sáng rực rỡ tỏa chiếu trong khắp vũ trụ, vạn vật vui mừng khôn xiết. Khi thái tử vừa sinh ra, Ngài liền có thể bước đi bảy bước. Sau mỗi bước chân của thái tử, mặt đất đều nở ra một đóa hoa sen; thái tử tay phải chỉ lên trời, tay trái chỉ xuống đất mà nói lớn rằng: “Trên trời dưới đất, ta là độc tôn.”

Biểu tượng của Phật gia

Quan điểm vũ trụ trong Phật gia có quan hệ mật thiết với hoa sen. Liên (sen) cũng là từ gắn với nhiều vật trong Phật gia như liên cung, liên vũ, liên giới, liên cảnh, liên xá, thủ ấn liên hoa… Hoa văn trong chùa cũng là hoa sen cách điệu, Phật Bà nghìn mắt nghìn tay cũng như một đóa sen ngàn cánh…

Trong kinh điển thường dùng hoa sen để miêu tả dáng hình đẹp đẽ của Phật Đà. Kinh Phật miêu tả thân của đức Phật là vi diệu chân kim sắc, hào quang phổ chiếu như kim sơn, thanh tịnh nhu nhuyễn như liên hoa (thân Phật có màu vàng rất đẹp, hào quang tỏa sáng như hòa núi vàng, thanh tịnh dịu dàng như hoa sen). Màu trắng của hoa sen tượng trưng cho sự thánh khiết của Đức Phật. Mỗi lần khi Phật giảng Pháp, các Phi thiên bay lượn và rải hoa giữa không trung. “Tay mềm nâng hoa sen, hư bộ bước (trên) hư không; Trong điệu khúc nghê thường (tay) kéo dải lụa, nhẹ bay lên trời cao.” (thơ Lý Bạch)

Hoa sen không những có hàm ý nội tại sâu sắc mà hình thái sinh trưởng cũng có ý vị, phong phú, bất luận là hoa, quả thân lá đều mang ý nghĩa đẹp đẽ. Vẻ đẹp lạ lùng của loài hoa huyền thoại này cũng bí ẩn như ý nghĩa nội hàm vô tận của nó.

Điều gì khiến hoa sen trở thành biểu tượng nhà Phật, tượng trưng cho vẻ đẹp thần bí, huyền ảo, tư tưởng Phương Đông sâu kín và là nguồn cảm hứng vô tận cho nghệ thuật và mọi phương diện đời sống trong nhiều thế kỷ? 

Hoa nơi cõi Trời

Kinh điển Phật giáo chép rằng: Hoa sen có ba loại, một là hoa ở cõi người; hai là hoa ở cõi trời; ba là hoa của Bồ Tát. Hoa cõi người lớn nhất cũng chỉ hơn mười cánh; hoa cõi trời trăm cánh; hoa của Bồ Tát ngàn cánh.

Kinh Phật ghi chép về hoa sen trên trời rất lớn và bất khả tư nghị, cũng như tòa sen trang nghiêm của đức Phật. Hoa sen của nhân gian lớn nhất cũng không hơn ba tấc, còn hoa sen trên trời lớn như bánh xe. Liên hoa mọc ở thiên cung lại còn lớn hơn nữa nên có thể xếp bằng ngồi kiết già trên đó. 

Hoa sen – Biểu tượng của Phật gia. (Ảnh: Thanh Phong/ETV)

Mối quan hệ giữa hoa sen và thế giới Cực Lạc là đặc biệt sâu sắc. Thế giới Cực Lạc còn được gọi là Liên bang (đất nước của hoa sen, bởi vì chúng sinh của nước này đều từ trong hoa sen hóa sinh nên gọi là Liên bang). Kinh Phật chép: “Hoa sen vốn là huyền cung xác phàm là ngôi nhà thần an trí huệ mạng, là nước mà ai cũng muốn đến, tên gọi nước này là Liên bang”. Hoa sen của Tây phương Cực Lạc tịnh thổ mọc trong ao Thất bảo được nuôi dưỡng bằng nước Bát công đức, hoa lớn như bánh xe, có xanh, vàng, đỏ, trắng, đủ loại, màu sắc khác nhau hương thơm thanh khiết vi diệu, biến cực lạc thế giới trang nghiêm thành tịnh thổ thánh địa.

Loài hoa trên thiên thượng xuất hiện chốn nhân gian

Đấng Sáng Thế đã tạo ra hoa sen nơi cõi trần hẳn là có hàm ý nhất định. Bởi thế trần gian có muôn vàn loài hoa, sen vẫn là loài hoa đẹp nhất. Loài hoa mọc nơi đầm lầy, trong những ao hồ làng quê, bình dị, mộc mạc, mà lại có sức cảm nhiễm lớn lao; bất cứ khi nào chiêm ngưỡng hoa sen, lòng người đều tán thán vẻ đẹp mỹ diệu thánh khiết, thanh cao gợi ra bao suy ngẫm về ý nghĩa đời người. Phải chăng Phật ẩn hiện trong đóa sen nơi trần thế mà giảng Phật Pháp cho ai có thể lĩnh ngộ?

Trong sách “Tánh Mạng Khuê” có bài thơ về hoa sen:

Hồng hồng bạch bạch thủy trung liên

Xuất ố nê trung sắc chuyền liên

Hành trực ngẫu không bổng hựu thục

Tu hành diệu lý kháp như nhiên.

Dịch nghĩa:

Sen nở trong đầm đỏ trắng phơi

Bùn nhơ không nhiễm sắc thêm tươi

Thân ngay, ngó rỗng, gương đầy hột

Cái lý tu hành cũng thế thôi.

Hoa sen là biểu tượng của Phật gia, vẻ đẹp và đặc tính sinh trưởng của hoa sen nơi trần thế lại tương tự kỳ lạ với những thiện hạnh của người tu Phật. Chiêm bái hoa sen mà có thể thấu tỏ bao nhiêu đạo lý nhân sinh, huyền cơ Phật Pháp.

Vô nhiễm

Hoa sen là một loài hoa thân thảo, với củ sen được vùi dưới bùn đất, nảy mầm, mọc xuyên qua nước và nở hoa, ra lá ngay trên mặt hồ. Hoa sen không hề bị hút mật bởi các loài ong bướm mà có thể tồn tại riêng biệt từ lúc hoa nở cho đến khi hoa tàn.

Ái Liên Thuyết của nhà Nho đời Tống Chu Đôn Di, Trong bài văn nói về nguyên nhân mà ông yêu thích hoa sen, nói rằng:

“Hoa của thảo mọc trên bờ dưới nước, có nhiều loại để yêu thích. Đào Uyên Minh đời Tấn chỉ yêu hoa cúc, từ thời Đường người đời lại rất yêu mẫu đơn, còn ta chỉ yêu hoa sen vì hoa sen sinh ra từ bùn lầy mà không nhiễm, trong sạch thanh thoát mà không lòe loẹt, bên trong thông suốt bên ngoài thẳng thắn, không rườm rà, hương thơm tỏa ra xa mà nhẹ nhàng, mọc thẳng vút cao mà trong sạch, có thể ngắm từ xa mà không thể khinh nhờn chơi đùa”.

Hoa sen – Vô nhiễm. (Ảnh: Thanh Phong/ETV)

Ông dùng hoa cúc để tượng trung cho ẩn sĩ, dùng mẫu đơn để ví về người giàu sang còn dùng hoa sen để tượng trưng cho người quân tử. Các văn nhân nhã sĩ của Trung Quốc gọi hoa sen là quân tử trong các loài hoa.

Kinh Phật thường dùng hoa sen để ví với các vị Thánh, Phật, và Bồ Tát tuy sinh nơi thế gian uế tạp nhưng vô nhiễm với bụi phàm. Hoa sen thanh thuần trên mặt nước như bậc Thánh giả đã siêu xuất khỏi thế gian ô trọc. Mọi xáo động bon chen người đời như giọt nước trôi tuột trên lá sen không hề đọng lại. 

Vẻ đẹp trong ngần, làn hương thanh tao sinh ra từ bùn đất. Người tu luyện sống ở thế gian nhưng không dính mắc chấp trước danh lợi tình, trong xã hội người thường lắm điều xấu xa, vẫn giữ gìn giới luật, tu dưỡng phẩm hạnh, nên thân tâm trong sạch, thanh tịnh.

Thân sen ngay thẳng từ bùn mà vươn cao khỏi mặt nước, nở hoa tỏa sáng cả một vùng. Khác chi người tu hành cũng phải sửa thân và tâm cho ngay thẳng, “trực tâm tức thị đạo tràng“ – nghĩa là giữ tâm ngay thẳng thì dù ở nơi chợ búa ồn ào cũng vẫn thấy như thành đạo tràng thanh tịnh. 

Hoa sen tuy thân ngay thẳng nhưng ruột thì trống rỗng. Người tu Phật dù thấy nhiều, nghe nhiều nhưng không để ở trong lòng, tâm vô vi thanh tĩnh an nhiên trước mọi thị phi, phiền lụy người đời. 

Phật Pháp nan tu

Hoa sen không sinh trưởng nơi cao nguyên, mà lại sinh sôi ở chốn bùn lầy ẩm thấp, cũng như Phật Pháp truyền tại nơi thế gian phức tạp, ô nhiễm, bởi con người cần trải qua những khổ nạn mới thấu hiểu sự hư huyễn và vô thường của đời người. Khi xưa Phật Thích Ca Mâu Ni phải rời bỏ chốn hoàng cung quyền quý mới có thể đi tìm Đạo, giác ngộ, tìm thấy con đường cứu vớt chúng sinh khỏi trầm luân phiền não. Bậc Thánh hiền biết tìm vui trong cảnh nghèo khó, trong cảnh tối tăm ô trọc mới có thể tỏa sáng nhân cách, ý chí, tâm hồn. 

Hoa sen thản nhiên chấp nhận chốn bùn lầy, kiên nhẫn vươn cao khỏi mặt nước, người tu luyện có thể thản nhiên, cam tâm tình nguyện chấp nhận mỗi một nhân duyên trong cuộc đời. “Đối cảnh luyện tâm, đối nhân luyện tính” (trước cảnh luyện tâm, trước người luyện tính). Thế sự đảo điên, thói đời sa sút đều là nền tảng cho sự tu dưỡng, trui rèn đức Nhẫn, các loại cảnh ngộ đều là cơ hội rèn luyện tâm tính, mới có thể mở rộng trí tuệ, thăng hoa cảnh giới, mở đường cho thành tựu tương lai. 

Sen ẩn sâu dưới bùn gọi là u vi, giống như cuộc đời của người tu hành luôn tránh xa những hào nhoáng phù hoa, âm thầm, nỗ lực vươn đến sự giải thoát chứ không phải để đắc được danh vọng bề ngoài. Vẻ đẹp của sen dẫu thanh cao nhưng đầy sự khiêm nhường, nên gọi là ẩn vi, thể hiện sự khiêm nhu của người tu luyện. Không đua chen danh lợi, chạy theo những thứ phù du. Lá sen mở rộng lên trời với những thớ mạch như nét vẽ của thiên nhiên gọi là tế vi. Tất cả mặt phải của lá đều hướng lên tượng trưng cho sự thành tâm, cho tấm lòng bao dung rộng lượng.

Phật quang phổ chiếu

Hương thơm thanh khiết mát lành của hoa sen tựa như Phật Đà tỏa ra vô lượng từ bi. Thiện hạnh của Phật được thành tựu thân tướng trang nghiêm đẹp đẽ khiến ai thấy đều cảm nhận sự an lành. Người tu tập các hạnh từ thiện cũng vậy, bản thể thanh tịnh nhu nhuyễn, an tĩnh như thể tánh hoa sen mềm mại, dịu dàng.

Không chỉ vô nhiễm bởi bùn lầy, sen còn làm thanh tịnh môi trường xung quanh. Những chỗ hoa sen mọc, nước sẽ tự động được lọc trong. Nơi nào có Phật Pháp ngự trị thì nơi đó sẽ đem lại cho mọi người sự an ổn, trong sạch trong tâm linh. 

Loài hoa chốn thiên thượng, nơi cõi Phật, vậy mà lại xuất hiện chốn nhân gian, ở những nơi bình dị, hàm ý rằng: mỗi người trong chúng ta đều có Phật tính. Tự trong tâm ai cũng muốn hướng thượng, từ vẻ đẹp cao quý của sen mà cảm động đến phần trong sáng thanh cao sâu thẳm trong mình. Cuộc đời chính là một trường tu luyện, sống trong xã hội người thường mà không ngừng tu dưỡng những phẩm tính cao quý như hoa sen thì đó là con đường tu luyện chân chính mà Đức Phật lưu lại cho con người; khi hoa sen khai nở cũng là lúc hành trình tu luyện thành tựu công đức viên mãn. 

“Nhân Liên hoa” được nhắc đến trong Kinh Phật để ví với sự khai mở tâm liên của chúng sinh, tức là người giác ngộ. Người đời có thể từ nội hàm của đóa liên hoa, mà thấu tỏ Pháp lý, thì dù trong thế sự đảo điên cũng có thể sống an nhiên, tĩnh tại, nhận ra ý nghĩa nhân sinh thực sự kiếp người. Liên hoa nơi cõi Trời nở thành đóa sen nơi cõi người, tâm liên khai mở, đốn ngộ Phật Pháp, là chiếc thang bắc lên Trời…

Đan Thư