Đời thượng cổ, người Việt nam đều tiêu dùng bằng tiền Tàu cả. Mãi tới đời vua Lý Nam Đế (544) mới đục lấy được tiền. Đó là đồng tiền Việt Nam thứ nhất có mấy chữ niên hiệu “ Thiên Đức”

Tới Gia Long (1802) mới định rõ các thứ tiền tiêu. Có ba thứ tiền, tiền vàng, tiền bạc, và tiền đồng.

Tiền vàng và tiền bạc thì làm từng thỏi hình chữ nhật, có khắc niên hiệu nhà vua, không có hình dấu gì cả. Những tiền này lấy lạng làm gốc.

Tiền vàng có những thỏi:

100 lạng

50 lạng

40 lạng

30 lạng

10 lạng hay là 1 nén vàng

5 lạng hay là ½ thoi vàng

1 lạng hay là 1 dĩnh vàng

½ lạng

¼ lạng

4 đồng cân

3 đồng cân

2 đồng cân

1 đồng cân

Tiền bạc thì có những thỏi

100 lạng

50 lạng

40 lạng

30 lạng

10 lạng hay là 1 nén bạc

5 lạng 

1 lạng hay là 1 dĩnh bạc

½ lạng

¼ lạng

Tiền đồng thì chỉ có một thứ nặng nhẹ không đều nhau.

Tiền Gia Long đúc ở Hà Nội năm 1814, nặng 1 đồng cân (3gr37)

Tiền đồng Đồng Khánh đúc ở Huế năm 1886, nặng 1 đồng 4 phân(4gr285).

Tiền đồng Thành Thái nặng 1 đồng phân (4gr125)

Bạc đồng (piastre) thứ nhất của người Việt Nam đúc ra là về đời Minh mạng, phỏng theo bạc đồng của người Mễ-tây-cơ. Đồng bạc này nặng 27gr045, có 375/1000 phần bạc. Nhưng vì số bạc nhẹ quá, nên không ai muốn dùng; đến năm 1858 không thấy còn nữa. Bây giờ người ta chỉ dùng những đồng bạc ấy ( có khắc hình con rồng) để làm huy chương tức là đồng ngân tiền mà chính phủ Nam triều vẫn ban cho những người có công lao.

Tiền ngoại quốc tiêu ở Đông Dương – Tiền ngoại quốc tiêu ở Đông Dương ngay từ thời Gia Long, nhưng chỉ dùng ở những hải cảng và những thị trấn có người ngoại quốc thôi.

Thấy có những thứ tiền này: 

  1. Bạc Mễ-tây-cơ cũ gọi là clean dollar.
  2. Đồng phật lăng Pháp.
  3. Đồng bạc Mễ-tây-cơ kiểu mới.
  4. Bạc đồng Mỹ (trade dollar).
  5. Đồng escu  quan của Pháp.

Những thứ tiền này xưa tiêu hỗn độn cả, mãi đến 1er Janvier 1906 mới thôi hẳn để nhường quyền chính thức cho tiền Đông dương do chính phủ Pháp phát hành.

Tiền bạc Đông dương từ khi có chính phủ Bảo hộ – Bạc đồng và các thứ hào xu mà chúng ta hiện đương tiêu là do nghị định ngày 22 Décember 1879 phát hành. Nhưng cũng mãi đến năm 1906 những tiền ấy mới có độc quyền lưu hành chính thức ở xứ này. Còn từ trước năm 1906, tiền ấy cũng bị coi như các tiền ngoại quốc khác.

Năm 1879, chính phủ Pháp đúc những thứ tiền này:

Bằng bạc – Đồng 1p, đồng 0p25, đồng 0p20 và đồng 0p10.

Bằng đồng – 1 xu; ½ xu.

Năm 1901 lại cho lưu hành thứ giấy bạc của nhà Đông Pháp ngân hàng, do sắc lệnh 3 Avril 1901 

Các thứ giấy bạc – 100p, 20p, 5p, 1p.

Trong cuộc Âu chiến 1914-1918 và cuộc Âu chiến hiện thời, chính phủ lại cho phát hành thêm những thứ giấy bạc: 0p50, 0p20, 0p10.

chừng hai tháng nay chính phủ lại phát hành thứ giấy bạc 500p. (chỉ tiêu được ở trong 5 xứ Đông dương này thôi).

Tiền kẽm – Triều Nguyễn có đúc nhiều tiền kẽm (sapèque de zinc). Có những tiền như Gia long thông bảo, Thiệu trị thông bảo, Tự đức thông bảo. Có hồi 1 xu ăn 6 đồng kẽm; có hồi 1 xu ăn 24 đồng kẽm,v.v…

Tiền kền – Năm 1930 Chính phủ đúc thêm thứ tiền bằng kền tức là đồng 5 xu.

Tiền đồng Bảo đại – Do chỉ dụ ngày 44 Mai 1933 phát hành, 1 xu ăn 6 đồng.

LINH QUANG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)