Một triều đại tái lập sự huy hoàng sau 20 năm mất nước, đáng tiếc là không còn lưu giữ nhiều những giá trị Phật giáo, nhưng đây lại là triều đại Nho giáo huy hoàng và lâu dài của nước ta.

Hình tượng rồng thời Lê

Thời đại Lê sơ có thể coi là thời kỳ phục hưng của nền quân chủ Đại Việt sau hơn 20 năm mất nước. Đây cũng là thời mà Phật giáo hầu như không can dự vào chính sự của quốc gia, mà thay vào đó là nền quân chủ trung ương tập quyền theo kiểu Nho giáo. Về cơ bản thì con rồng nhà Lê hoàn toàn thoát khỏi phong cách của rồng Lý Trần mà trở thành một con rồng thuần dương, tượng trưng cho uy quyền thống trị và dùng binh uy để bình định tứ phương, mở rộng lãnh thổ. Nói cách khác là một con rồng tượng trưng cho quân sự chứ không nói về văn trị và võ công như Lý Trần.

Hình dáng của con rồng nhà Lê sơ phát triển trên đặc điểm rồng thời Trần, vẫn là dạng thân uốn cứng cáp, to khỏe, nhưng mào và sừng ở đầu tạo hình trông dữ hơn. Đầu rồng thời nhà Lê to, có hai nhánh sừng nhô cao, mắt lồi, bờm mượt cuộn ra sau. Lưng rồng nhô hình vây nhọn theo khúc uốn. Một tay rồng cầm lấy râu. Chân rồng chạm năm móng sắc nhọn, các hình xoắn trang trí bên thân Rồng, kết hợp với mây đao lửa. Hình tượng rồng toát ra trang nghiêm, với râu bờm và sừng nổi cao dũng mãnh uy quyền, nhìn tổng thể như hình dáng một vị hoàng đế đang ngồi trên ngai cao để bách quan triều bái, thiên hạ hướng về mà quy phục. 

Kể từ thời Lê sơ trở về sau ta sẽ không còn thấy hình tượng vòi rồng tạo mưa trên mũi rồng như nhà Lý; mây đao lửa sẽ dài to hơn và nhiều hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc phát triển nền văn hóa nông nghiệp và tâm linh sẽ không còn là trọng tâm của các triều đại từ nhà Lê về sau, mà thay vào đó là sự củng cố quyền uy của hoàng đế và mở rộng lãnh thổ. 

Đây cũng là thời kỳ mà Đại Việt bắt đầu xuất hiện nhiều cuộc chiến tranh với cả trong và ngoài nước hơn bất kỳ thời đại nào trước đó. Các mây đao lửa này có thể xem như sự phô diễn pháp lực và quyền uy của rồng hay thiên tử thời Lê. Có điều trùng hợp là khi các mây đao lửa này ngắn lại (rồng Lê thế kỷ 17) và gần như biến mất hoàn toàn ở hình tượng rồng Lê thế kỷ 18 (Lê trung hưng) thì ngai vàng vua Lê thực chất cũng chỉ còn mang tính hình thức.

Minh họa rồng thời lê. (Ảnh: Epoch Times Tiếng Việt)

Nam phương suy vi, 20 năm mất nước

Sau khi văn minh long tộc Thần Nông lên đến đỉnh cao vào hai triều Lý Trần thì đến giai đoạn suy vi theo như lý Âm Dương của vũ trụ “thịnh cực tất phản”. Nhà Minh đã đô hộ nước ta 20 năm, đốt phá cướp bóc và xóa bỏ hầu hết những thành tựu của dòng họ rồng nhánh Thần Nông. Bề mặt là Trung Hoa đô hộ Việt Nam, nhưng phía không gian tâm linh thì chính là sự giao phong nghìn năm giữa long tộc hệ Hiên Viên phương Bắc và hệ Thần Nông phương Nam.

Họ Hiên Viên đã bị chặn đứng ở biên thùy phía Bắc qua hai triều Lý Trần nay nhân cơ hội họ Thần Nông suy bại mà chiếm lấy. Nguyên do cũng bởi vì các hoàng đế nhà Trần từ sau Minh Tông đã không còn là người tu hành chính pháp, đam mê tửu sắc nên dòng họ và quốc gia không còn được sự bảo hộ từ long tộc và thiên thượng. Hai mươi năm Bắc quốc đô hộ là bài học xót xa cho con cháu Long quân vậy.

Trời cho ngôi long mạch, khơi lại giống Rồng Tiên 

Nhà Minh là triều đại duy nhất trong vòng 1000 năm trở lại đây thành công chiếm giữ và áp đặt đô hộ lên Đại Việt. Bản thân các vua nhà Minh cũng rất tin tưởng và tinh thông vào thuật phong thủy long mạch, đã cẩn thận đặc phái riêng Thượng thư Hoàng Phúc tinh thông phong thủy kỳ môn sang nước Nam vừa để truyền bá Hán học và nhân tiện chiểu theo các mô tả trong tấu chương của Cao Biền thời Đường mà trấn yểm và hủy đi các long mạch phát đế vương của nước Nam. Mục đích là để cho nước Nam đời đời thuộc về Bắc quốc.

Sau 20 năm, Thiên thượng cuối cùng cũng đã an bài cho nước Đại Việt trở mình và ban ngôi long mạch quý cho dòng họ Lê đất Thanh Hóa. Chuyện này từng được chính Thượng thư Hoàng Phúc của nhà Minh tiên đoán được trước đó nhiều năm. Số là vào thời cuối nhà Hồ, có vị tiến sĩ tên Lê Cảnh Tuân vì viết bài văn Vạn Ngôn Thư chống lại quân Minh xâm lược mà hai cha con bị bắt giải qua Yên Kinh và qua đời ở đó. Hai người con trai của ông ở lại Thăng Long, sau đó được Hoàng Phúc mến tài nhận làm con nuôi và hết lòng nuôi dạy.

Long mạch trao người đại đức, Long quân ban tặng kiếm thần

Sau 20 năm đô hộ, đến lúc phương Nam chuyển mình thì Thiên thượng đã sai người xuống ban ngôi long mạch cần thiết cho triều đại mới quật khởi.

“Khi ấy nhà vua (tức Lê Lợi) sai người nhà cày ruộng ở xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi. Chợt thấy một vị sư già, mặc áo trắng, từ thôn Đức Tề đi ra, thở dài mà rằng: ‘Quý hoá thay phiến đất này! Không có ai đáng dặn!’ Người nhà thấy thế, chạy về thưa rõ với nhà vua, nhà vua liền đuổi theo tìm hỏi chuyện đó. Có người báo rằng: ‘Sư già đã đi xa rồi.’

Nhà vua vội đi theo đến trại Quần Đội, huyện Cổ Lôi, (tức huyện Lôi Dương ngày nay) thì thấy một cái thẻ tre đề chữ, dịch nghĩa là: ‘Đức trời chịu mệnh. Tuổi giữa bốn mươi! Số kia đã định. Chưa tới… tiếc thay!’ 

Nhà vua thấy chữ đề mừng lắm, lại vội vàng đi theo. Khi ấy có rồng vàng che cho nhà vua! Bỗng nhà sư bảo nhà vua rằng: ‘Tôi từ bên Lào xuống đây, họ Trịnh, tên là sư núi Đá trắng. Hôm thấy ông khí tượng khác thường tất có thể làm nên việc lớn!’

Nhà vua quỳ xuống thưa rằng: ‘Mạch đất ở miền đệ tử, tôi sang hèn ra thế nào xin thầy bảo rõ cho? 

Nhà sư nói: ‘Xứ Phật hoàng thuộc động Chiêu Nghi, có một khu đất chừng nửa sào, hình như quả quốc ấn. Phía tả có núi Thái Thất, núi Chí Linh (ở miền Lảo Mang); bên trong có đồi đất Bạn Tiên. Lấy Thiên Sơn làm án (ở xã An Khoái). Phía trước có nước Long Sơn, bên trong có nước Long Hồ là chỗ xoáy trôn ốc (ở thôn Như Ứng). Phía hữu nước vòng quanh tay Hổ. Bên ngoài núi xâu chuỗi hạt trai. Con trai sang không thể nói được nhưng con gái phiền có chuyện thất tiết. Tôi sợ con cháu ông về sau, có thế phân cư. Ngôi vua có lúc Trung Hưng. Mệnh trời có thể biết vậy. Nếu thầy giỏi biết lắng lại, thì trung hưng được năm trăm năm.’

Nhà sư nói rồi, nhà vua liền đem di cốt đức Hoàng khảo táng vào chỗ ấy. Tới giờ Dần, về đến thôn Hạ Dao Xá nhà sư bèn hóa bay lên trời! Nhân lập chỗ ấy làm điện Du Tiên. Còn động Chiêu Nghi thì làm am nhỏ (tức là nơi một Phật hoàng). Đó là gốc của sự phát tích vậy”. (Lam Sơn thực lục)

Sau khi được trời ban ngôi long mạch, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, đức Long quân bèn tìm cách trao tận tay thanh kiếm thần để giúp nhà vua chiến thắng quân Minh.
Huyền thoại đó đến nay vẫn còn ghi dấu với sự tích “hồ Hoàn Kiếm” huyền thoại.

Tiếp tục Nam tiến, gầy dựng tương lai cho dân tộc nghìn năm

Nhà Lê với cái bình uy vừa rửa xong nỗi nhục mất nước, lập tức quay giáo trỏ về phương Nam, quyết tâm hoàn thành con đường gian nan nhưng vinh quang của các triều đại trước đã tìm ra. Với thiên tài của vua Lê Thánh Tông và các tướng lãnh sau đó, Đại Việt đã bám rễ vững chắc trên mảnh đất phương Nam, chuẩn bị cho một thời kỳ huy hoàng về sau.

Thời Lê có thể được xem là thời kỳ phục hưng của văn minh Đại Việt sau 20 năm bị tàn phá dưới thời thuộc Minh. Sau khi Lê Thái Tổ lên ngôi, nước Việt có cái binh uy hùng mạnh vừa thắng giặc Minh nên đối với Chăm Pa rất kiên quyết và mạnh mẽ. Nhà Lê cũng xem việc mở rộng về phía Nam là một quốc sách quan trọng, đặc biệt là trong thời kỳ cực thịnh của vua Lê Thánh Tông. Chăm Pa bắt đầu từ thời Lê trở đi không còn sức lực để quật khởi lần nào nữa, lại có đế quốc Chân Lạp phía Nam uy hiếp nên dần dần suy bại.

Chăm Pa nhân triều đình nhà Lê mới thành lập đã nhiều lần tiến đánh cướp nước Nam. Nhà Lê đang thời cường thịnh liền điều động đại quân thảo phạt và ngay sau đó đã đánh tan nước Chăm Pa, bắt vua cùng toàn bộ hoàng gia.

Vua Lê Thánh Tông khi lên ngôi liền bắt đầu cuộc Nam tiến và mở rộng lãnh thổ vô cùng mạnh mẽ hiếm có của Đại Việt. Có lẽ với tầm nhìn xa và hùng tài đại lược của mình, Thánh Tông muốn dùng hết sức đặt nền tảng cho con đường sống còn duy nhất của dân tộc muôn đời sau vậy.

Người Chăm Pa cũng hiểu được đại thế của họ đã mất, sức lực không còn bao nhiêu, chỉ còn một con đường tử chiến mà thôi.

Chia cắt Chăm Pa, làm thành rễ sâu gốc vững ở miền Nam

Sau khi tiêu diệt Chăm Pa, vua Lê Thánh Tông sáp nhập một phần lãnh thổ của họ vào nước ta. Một vị tướng của Chăm Pa chạy thoát về phía Nam tái lập nước Chăm Pa ở Phan Rang, phần còn lại của nước Chiêm thì vua Lê Thánh Tông thì chia làm 2 nước nhỏ hơn để khống chế. Các nước ở phía Tây nghe tin quân Việt đại thắng đều đến tiến cống. Lần chiến thắng và cắt đất này của vua Lê Thánh Tông chính là đã khiến cho thế lực Đại Việt đứng vững chân ở vùng đất phía Nam, tạo uy thế cho các triều đại sau thuận lợi mở rộng thêm lãnh thổ.

Sau khi lấy thêm đất Quảng Nam và Thăng Hoa thì vượng khí Long mạch Đại Việt đã ngày càng mạnh; con đường Nam tiến ngày càng tươi sáng, đã chuẩn bị sẵn sàng cho triều đại sau đó có người đại đức hoàn tất vậy. 

Thời Trần suy vi từ lúc các vua không còn quan tâm đến chuyện tu hành, Thiện niệm rời xa dân chúng. 

May mắn nhờ phúc trạch con cháu Long quân mà cõi Nam này cũng là một phần đất quan trọng, nên Trời mới cho Lê Thái Tổ khởi binh thu phục giang sơn. 

Một nhóm quân nhỏ lúc mới khởi dựng có thể đánh bại một đế quốc của thế giới đang ở thời kỳ hùng mạnh, cũng là một Thần tích mà Trời muốn thế nhân thấy để lòng người hướng Thiện tu tâm. Triều Lê tuy rất thành công trong việc Nam tiến và mở rộng lãnh thổ, nhưng các vua lại không quy chính được nhân tâm đúng với Thiên ý do mấy trăm năm trị vì khiến dân chúng chịu không ngớt nạn binh đao. Thật đáng tiếc thay!

Đông Phong