Nhà Lý là triều đại lấy Phật giáo làm chủ đạo trong cả nước. Dù cho các khoa thi Nho học đã được mở ra, nhưng tư tưởng trị quốc và cách hành xử đạo đức của các vua vẫn theo chuẩn mực của nhà Phật. Điều này bắt nguồn từ việc Lý Công Uẩn vốn là tục gia đệ tử của Phật môn, nên Rồng hộ vệ cho Lý triều chắc chắn là một loại hình tượng Rồng trong Thiên Long Bát bộ chúng hộ Pháp. Có thể coi đó là con Rồng bảo vệ Phật Pháp, Rồng của nhà Phật. Có lẽ vì thế mà hình dạng hai má của Rồng nhà Lý rất giống tạo hình của con Makara, một loại ngư tinh miêu tả trong thần thoại Ấn Độ. Dạng má này được bảo tồn cho đến tận con Rồng thời Nguyễn, nó cũng cho thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của giáo lý nhà Phật đến nước ta, hoàn toàn không giống như con rồng bên Trung Hoa.

Hình tượng Rồng thời Lý uyển chuyển mềm mại và thường được chạm khắc với các họa tiết Phật giáo như lá bồ đề, lá sen… Mào, mũi và bờm của Rồng nhà Lý là các đường nét rất tự nhiên. Mũi Rồng là những đường cong xếp chồng thể hiện vòi rồng, bờm tỏa ra tinh tế và phấp phới như có gió thổi. Râu mềm mại như làn sóng hướng về phía trước thu nhỏ lại, giao nhau tạo ấn tượng về nguồn nước. Miệng thường nhe ra để lộ hai hàm răng đang ngậm hoặc vờn ngọc. Râu và mào Rồng, vòi Rồng hướng về phía trước tạo nên một hình ảnh giống chiếc lá bồ đề. Thân rồng Lý hình tròn lẳn, thon thả to từ cổ nhỏ dần đến đuôi trong tư thế mềm mại tự nhiên như đang bay. Chân Rồng nhỏ nhắn có móng như móng chim.

Rồng thời Lý. (Ảnh: Epoch Times Tiếng Việt)

Rồng thời Lý có vòi rồng rất to và rõ trên mũi. Vòi rồng tượng trưng cho khả năng làm mưa, như vậy rồng thời Lý là loài rồng có pháp lực chuyên quản về mưa gió, vốn là thứ quan trọng nhất trong nền văn minh nông nghiệp. Văn minh trọng nông là nền văn minh trọng chữ Nhân, lấy nhân từ, nhân đức mà hành xử.

Vì thế điều này cũng gián tiếp thể hiện tinh thần cai trị quốc gia của hoàng tộc nhà Lý lúc đó chịu ảnh hưởng của tâm từ bi nhà Phật mà thi hành “Đức trị thiên hạ”, thi hành nhân đức giáo hóa, nên hình tượng Rồng không mang tính uy hiếp mà rất tinh xảo và nghệ thuật. 

Đặc trưng long mạch thời Lý, hưng vượng nhờ Phật Pháp

Kể từ khi triều đại Văn Lang khai quốc, nước ta trải qua 2600 năm với nền văn minh Thần truyền rực rỡ nhất trong lịch sử. Điều này có được là nhờ ngôi long mạch đất Phong Châu, có thể gọi là “Tổ Long” của phương Nam đã đem đến sự hưng thịnh đó cho Việt tộc. Lý do nhà Văn Lang lại được ngôi đất quý đến thế là bởi vì các vua Hùng là thành viên trực hệ của long tộc Thần Nông hệ phương Nam; hầu hết các vua Hùng lại cũng là người tu luyện Đắc đạo chân chính. Vì vậy triều đại Hùng Vương luôn được Thiên long bộ chúng bảo hộ bình an suốt 26 thế kỷ đó. 

Nhưng nguyên lý Âm Dương vật cực tất phản, sau 26 thế kỷ huy hoàng thì dân ta phải trải qua gần nghìn năm nô lệ, vì triều Hùng đã tan rã, long mạch Phong Châu cũng tán hết vượng khí. Cần phải có một long mạch khác đủ mạnh để khai mở một triều đại mới, khai sáng một nền thịnh trị khác cho nước ta. Đó chính là long mạch vùng đất Tiêu Sơn, Cổ Pháp (Bắc Ninh), và hoàng thành Thăng Long, nơi khai sinh nhà Lý.

Đó là an bài cho sự du nhập của Phật giáo vào đất Luy Lâu (Bắc Ninh) từ thời nhà Ngô đô hộ vào thế kỷ thứ hai, khiến Luy Lâu trở thành trung tâm Phật Giáo lớn nhất và là nơi Phật Giáo truyền vào Trung Hoa. Chính quốc sư Thông Biện triều Lý, trong lúc đàm đạo Phật Pháp với Nguyên Phi Ỷ Lan đã dẫn lời pháp sư Đàm Thiên cho biết: “Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu đã có hai mươi bảo tháp, độ được năm trăm vị tăng, và dịch được mười lăm quyển kinh rồi”.

Triều Lý là triều đại mà đạo Phật là quốc giáo, thiên tử xuất thân cửa Phật. Thế nên những cao tăng Phật môn chính là những người được Trời phái đến để chỉnh lại phong thủy cho Lý triều hưng khởi. Là một triều đại thịnh trị bậc nhất cổ kim với các vị vua hiền minh tín Phật, nên không khó hiểu khi các thành viên Long tộc lại hiện diện thường xuyên nhất trong thời đại này.

Kim long hiện thân, bảo hộ hoàng triều 

Nhà Lý do Thái Tổ Lý Công Uẩn thành lập nên. Ngài là một tục gia đệ tử Phật môn của thiền sư Vạn Hạnh. Là chân mệnh thiên tử của một triều đại hùng mạnh bậc nhất lịch sử, cuộc đời của các vua nhà Lý đầy những vinh quang gắn liền với các giai thoại của Rồng suốt từ Thái Tổ cho đến Thần Tông. Chỉ có đời Huệ Tông chính sự mục nát nên không còn long tộc bảo hộ nữa. Và kết cuộc là sau Huệ Tông đến đời Chiêu Hoàng là mất nước.

Vì sao mà Lý triều lại có nhiều Rồng vàng xuất hiện đến thế? Như đã trình bày ở trên, long tộc ngoài nhiệm vụ bảo hộ cho Thiên tử, còn phụ trách Hộ Pháp cho Phật môn. Thời nhà Lý là thời Phật giáo là quốc giáo, từ vua đến dân đều sùng Phật.

Kể từ khi Lý Thái Tổ là tục gia đệ tử nhà Phật lên ngôi, các vị cao tăng như Vạn Hạnh, Minh Không, Không Lộ, Giác Hải và nhiều cao tăng khác… đều tận tâm phù trợ hoàng triều. Các vua Lý Thánh Tông là đệ tử đời thứ nhất, Lý Anh Tông đời thứ ba, Lý Cao Tông thế hệ thứ năm của Thiền phái Thảo Đường. Những điều này đã tạo thành năng lượng cát tường, khiến cho long tộc càng phải thường trụ tại nơi này vừa để bảo hộ hoàng gia vừa để hộ Pháp vệ Đạo.

Vậy có thể kết luận rằng sự xuất hiện của Rồng trong các đời vua chính là thể hiện vận số của triều đại đó gắn liền với ân sủng từ Thiên thượng, khi các vị minh quân sống đúng Đạo và hồng truyền Chính Pháp. Khi vận số suy, hôn quân cai trị, Đạo pháp suy vi thì long tộc và rồng sẽ không còn xuất hiện. Đó cũng là đến lúc thay triều đổi đại vậy. Chính sử từ sau đời Cao Tông nhà Lý trở đi không còn ghi lại sự xuất hiện của rồng nữa, mãi cho đến khi nhà Trần lên ngôi.

Các ghi chép về Rồng trong chính sử thời Lý như sau:

“Mùa thu, tháng 7, vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long.” (Đại Việt sử ký toàn thư – Lý Thái Tổ)

“Năm thứ 11 [1020] cho làm Nguyên soái đi đánh Chiêm Thành có trại Bó Chính. Đại quân vượt biển, đến núi Long Tỵ có rồng vàng hiện ở thuyền ngự, chỉ một mình vua đỡ lấy con rồng. Đến nơi, đánh tan quân Chiêm, bắt được tướng đem về. Năm thứ 19 [1027], mùa xuân, tháng 3, ngày mồng 1 Bính Thân, vua lấy áo ngự ban cho Trần Tuệ Long là đạo sĩ ở quán Nam Đế. Đêm ấy có ánh sáng khắp trong quán. Tuệ Long kinh ngạc dậy xem thì thấy rồng vàng hiện ở mắc áo. Kỷ Tỵ, niên hiệu Thiên Thành năm thứ 2 [1029] Tháng 6, rồng hiện lên ở nền điện Càn Nguyên”  (Đại Việt sử ký toàn thư – Lý Thái Tông)

“Giáp Thân, Minh Đạo năm thứ 3 [1044] Tháng 9, ngày mồng 1, đến phủ Trường Yên, có rồng vàng hiện ở thuyền ngự.

Quý Tỵ, Sùng Hưng Đại Bảo năm thứ 5 [1053] Mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 5, động đất 3 lần. Mồng 10, có mây không có mưa, rồng vàng hiện ở gác Đoan Minh. Bầy tôi chúc mừng, duy có nhà sư Pháp Ngữ nói: “Rồng bay trên trời, nay lại hiện ở dưới là điềm không lành” (Đại Việt sử ký toàn thư – Lý Thánh Tông)

“Quý Hợi, Anh Vũ Chiêu Thắng năm thứ 8 [1083], (Tống Nguyên Phong năm thứ 6). Mùa xuân, vua thân duyệt các hoàng nam, định làm 3 bậc. Rồng vàng bay từ điện Tử Thần đến điện Hội Long.”

Tháng 3, ngày Bính Thìn, vua ngự đến núi Chương Sơn để khánh thành bảo tháp Vạn Phong Thành Thiện. Có rồng vàng hiện.

Kỷ Hợi, Hội Tường Đại Khánh năm thứ 10 [1119] Mùa đông, tháng 10, duyệt sáu binh tào Vũ Tiệp, Vũ Lâm v.v. Bèn ban khí giới cho tướng sĩ, vua ngự thuyền Cảnh Hưng, xuất phát từ bến Thiên Thu, cờ xí rợp trời, gươm giáo rẽ sương, quân sĩ đánh trống reo hò, khí thế trăm phần hăng hái. Ngày hôm ấy, rồng vàng hiện bay theo thuyền. 

Canh Tý, Thiên Phù Duệ Vũ năm thứ 1 [1120] Mùa thu, tháng 9, có rồng vàng hiện.

Ất Tỵ. Thiên Phù Duệ Vũ năm thứ 6 [1125] Rồng vàng lượn ở bảo đài kỳ thọ ở Động Vân.

Bính Ngọ, Thiên Phù Duệ Vũ năm thứ 7 [1126] Mùa hạ, tháng 5, ngày Nhâm tuất, mở hội Nhân Vương ở Long Trì. Ngày hôm ấy rồng vàng hiện ở điện Vĩnh Quang.”

(Đại Việt sử ký toàn thư-Lý Nhân Tông)

“Nhâm Tý, Thiên Thuận năm thứ 5 [1132], (Tống Thiệu Hưng năm thứ 2). Mùa hạ, tháng 4, đêm có rồng vàng từ điện Vĩnh Quang hiện ra ở cung Lệ Quang.

Giáp Dần, Thiên Chương Bảo Tự năm thứ 2 [1134] Mùa thu, tháng 7, rồng vàng ban đêm hiện ở điện Vĩnh Quang.” (Đại Việt sử ký toàn thư – Lý Thần Tông)

Trị vì một quốc gia non trẻ nhỏ bé vừa độc lập khỏi Trung Hoa khổng lồ, nhà Lý đã thành công xây dựng nên một triều đại huy hoàng 200 năm. Không chỉ là chính trị và binh nghiệp, đến ngày nay những thành tựu văn hóa còn lưu lại của Lý triều vẫn làm kinh ngạc hậu nhân mãi không thôi. Thậm chí một chi hệ nhỏ bé nhà Lý lưu lạc qua Triều Tiên mà còn hưng thịnh đến nay, mới thấy Phật ân hạo đãng và công đức của các vua Lý cao dày như thế nào. Âu cũng là điều minh chứng cho thấy Phật pháp không phải là mê tín, và sự sùng Phật của các vua Lý dẫu có bị các sử quan nông cạn đời sau chê cười thì cũng đã giúp dựng nên được một triều đại huy hoàng có một không ai trong lịch sử nước nhà. Vĩ đại thay vua Lý và càng hùng vĩ thay Phật pháp vô biên.

Đông Phong