Jerusalem – miền đất thiêng, một thánh địa nơi ba tôn giáo lớn đã gặp nhau: đạo Do Thái, đạo Kitô, và đạo Hồi. Tại đó Chúa Yahweh (còn gọi là Jehovah) đã hiện lên để giao ước với dân tộc Do Thái; Chúa Kitô đã bị đóng đinh trên Thánh giá; và cũng tại đó Giáo chủ Muhammad đã hành hương. 

Jerusalem – miền đất thiêng, một thánh địa nơi ba tôn giáo lớn đã gặp nhau: đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi. (Ảnh: Pixabay)

Trải qua bao thế kỷ, tín đồ của ba tôn giáo cùng một gốc mà thù nghịch nhau để giành Thánh địa về mình. Đằng sau những cuộc xung đột nảy lửa vùng Trung Đông là một thiên sử thi bi tráng về lịch sử, tôn giáo, chính trị, và máu lệ của người Israel.

3 tôn giáo cùng gốc

Do Thái giáo được xem là một trong những tôn giáo độc thần cổ đại nhất thế giới với chiều dài lịch sử hơn 3,000 năm. Từ dân tộc Do Thái đã ra đời ba tôn giáo lớn nhất và ảnh hưởng nhất trên thế giới: khởi đầu là Do Thái giáo vào khoảng năm 1500 TCN; tiếp theo là Kitô giáo được Chúa Jesus sáng lập vào giữa thế kỷ I như một nhánh ly khai từ Do Thái giáo; và sau đó là Hồi giáo được nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào thế kỷ XI. 

Kitô giáo giữ lại hầu hết các kinh điển cũ của Do Thái giáo và gọi là “Cựu Ước”, đồng thời biên soạn những khái niệm của Chúa Jesus thành “Tân Ước”. Hai bộ “Cựu Ước” và “Tân Ước” tạo thành “Kinh Thánh”.

Tuy nguyên thủy không phải là một nhánh ly khai từ Do Thái giáo hay Kitô giáo, Hồi giáo tự cho mình là sự tiếp nối hoàn hảo và thay thế cho hai tôn giáo nói trên. 

Trong khi ở Israel, mỗi cộng đồng tôn giáo có quyền kiểm soát đối với các vấn đề riêng của cộng đồng mình về tình trạng cá nhân, có quyền duy trì văn hóa, tôn giáo, và luật pháp; thì những người Hồi giáo sinh sống trong khu vực này không chấp nhận sự thành lập của Israel cũng như không chào đón bất cứ ai không phải tín đồ Hồi giáo đến sinh sống tại đây. Họ muốn quyền lực bá chủ tuyệt đối trên mảnh đất này mà không ai được phép xâm phạm. 

Israel đã nhiều lần tiến hành các giải pháp hòa bình, đồng ý một lãnh thổ độc lập của riêng người Hồi Giáo trên đất Israel nhưng những người Hồi giáo cực đoan Palestine không chấp nhận. Họ muốn Israel mãi mãi biến mất và muốn Israel phải nằm dưới tay sự thống trị tuyệt đối của họ dựa trên những luật lệ của Hồi giáo.

Muốn hiểu tại sao dân tộc Do Thái sau hai ngàn năm vong quốc, phiêu bạt khắp thế giới mà vẫn hướng về Jerusalem, hễ gặp nhau là chúc nhau “Sang năm về Jerusalem”; muốn hiểu tại sao dân tộc ấy lại gắn kết với nhau, chống lại khối Ả Rập và đế quốc Anh để tái lập quốc gia của họ trên một dải đất nhỏ hẹp giáp với biển và 3 mặt đương đầu Ả Rập; thì phải hiểu qua lịch sử của dân tộc Do Thái và những nỗi đau khổ, tủi nhục mà họ phải chịu hơn hai ngàn năm qua.  

Thủy tổ người Israel

Xứ Israel, xưa tên là Canaan, có một vị trí rất quan trọng từ thời thượng cổ. Nằm giữa Á Châu và Phi Châu, quay mặt ra Địa Trung Hải và quay lưng vào sa mạc; lại ở giữa hai trung tâm của hai nền văn minh sớm nhất của nhân loại Ai Cập và Mésopotamie.

Bản đồ Canaan năm 1692, của Philip Lea. (Ảnh: Wikipedia)

Người Israel (thường gọi là người Do Thái) có nguồn gốc từ người Hebrew cổ đại xuất hiện tại Trung Đông vào 4,000 năm trước. Lịch sử xa xưa của dân tộc Israel đã được ghi chép đầy đủ và rành mạch trong Thánh Kinh – Cựu Ước – từ khi trời đất được tạo lập. Người Do Thái con cháu dòng dõi Abram. Abram là người đầu tiên đã được lệnh của Thượng đế, lập ra một quốc gia gồm toàn những con cháu của những gia đình còn tôn thờ Yahweh, tức là Đức Chúa Trời. 

Một ngày kia, Yahweh phán bảo Abram hãy rời bỏ xứ sở đi đến một nơi mà Thiên Chúa chỉ định. “Ta sẽ chúc lành cho ngươi và từ ngươi, ta sẽ tạo nên một dân tộc lớn.” (Sáng Thế Ký chương 12 câu 1 và 2).

Đó là vào khoảng năm 2,000 TCN. Theo Sách Xuất Hành trong Kinh Thánh, Abram cùng gia đình rời bỏ quê hương ở Ur đi đến Harran. Tại đó, trong giấc mơ, Abram đã nhìn thấy Thượng Đế và được Người chỉ đường tới vùng đất Canaan. 

Thượng Đế lập Giao ước với Abram rằng: “Ta là Thiên Chúa toàn năng, và Ta lập Giao ước với ngươi. Ngươi sẽ là tổ phụ của nhiều dân tộc, và để đánh dấu Giao ước này, ngươi sẽ đổi tên thành Abraham (có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc”). Ta sẽ giữ lời hứa, và xứ Canaan sẽ thuộc về ngươi và dòng dõi của ngươi đời đời; và Ta sẽ là Thiên Chúa của họ.”

Xứ Canaan về sau được gọi là Đất Hứa (Promised Land) là vì vậy. Abraham chấp nhận Giao ước, và nguyện tôn thờ Thượng Đế – Đức Jehovah – là Thiên Chúa duy nhất. 

Theo mô tả trong Kinh Thánh, xứ Canaan tương ứng với vùng Levant – ngày nay là Liban, Israel, Palestine, phần phía Tây Jordan và Tây Nam Syria – còn được hiểu là Ngã tư Tây Á.

Bản đồ Cận Đông của Robert de Vaugondy (1762), chỉ ra “Canaan” giới hạn ở Vùng đất thánh, loại trừ Liban và Syria. (Ảnh: Wikipedia)

Sau khi Abraham qua đời, trách nhiệm lãnh đạo được truyền lại cho con trai ông là Isaac, và rồi đến con trai của Isaac là Jacob. Đến đời Jacob, Thượng Đế đã chúc phúc và đặt tên cho ông là Israel, có nghĩa là “Kẻ chiến đấu với Thượng Đế”  (Sáng Thế Ký chương 32 28). Và kể từ Jacob, người Hebrew được gọi là dân Israel. Kể từ đó, người Hebrew được gọi là ‘Son of Israel’ (Những người con của Israel).

Lịch sử của dân tộc Do Thái bắt đầu với câu chuyện của gia đình Abraham như vậy. Họ trở thành một thị tộc, rồi phát triển lớn hơn thành một bộ tộc, và cuối cùng trở thành một dân tộc – dân tộc Do Thái.

Moses – nhà tiên tri sáng lập Do Thái giáo

Tại Canaan, một trăm năm sau Abraham, vào thời đại của Jacob, một nạn đói hoành hành khắp Canaan. Toàn thể gia tộc của Jacob khoảng 70 người phải di cư sang Ai Cập. Chuyến đi tị nạn tưởng chỉ để qua nạn đói năm đó, không ngờ kéo dài tới 400 năm. 

Các Pharaoh Ai Cập cưỡng bách người Israel làm việc cực nhọc, bóc lột, thậm chí sát hại những đứa trẻ Do Thái mới ra đời. Giữa khổ nạn của người Do Thái, Moses xuất hiện, như một phép màu của Thượng Đế để giải cứu dân Do Thái khỏi ách nô lệ. Đó là vào khoảng thế kỷ 15–14 trước Công nguyên (TCN)

Moses cầm theo cây gậy linh thiêng của Thiên Chúa ban cho, dẫn họ thoát khỏi Ai Cập để đi vào sa mạc. Từ đó họ cố gắng giành lại Miền Đất Hứa – vùng đất Canaan mà Thượng Đế đã hứa cho họ từ thời Abraham. 

Moses quỳ trước bụi cây cháy, vẽ bởi Raphael khoảng năm 1514. Bản vẽ nhấn trắng trên 23 tờ các tông nối nhau, đục lỗ để chấm bột. Bảo Tàng Real Bosco di Capodimonte, Naples, Ý. (Ảnh: Museo e Real Bosco di Capodimonte /Được phép của Bộ Di Sản và Hoạt Động Văn Hóa và Du Lịch)

Mãi đến năm 1251 TCN, người Do Thái mới trở về Canaan, lúc này đã bị người Philistine chiếm. Vua David lên nối ngôi, đánh thắng người Philistine, chiếm lại toàn cõi Canaan và dựng đô ở Jerusalem. Tới đời con David là Salomon, quốc gia Israel hưng thịnh nhất. Ông cho cất một ngôi đền đẹp đẽ, đền Jerusalem, nghĩa là đền Bình Trị. 

Vào năm 586 TCN Vua Nebuchadrezzar II của Babylon phá hủy Ngôi Đền của Solomon và bắt dân Do Thái về Babylon làm nô lệ. Năm 538 TCN Đại đế Cyrus của Ba Tư tiêu diệt Đế quốc Babylon và cho phép người Do Thái trở về Jerusalem. 

Sự cai trị của La Mã mỗi ngày một tàn khốc. Năm 70 Công nguyên, quân đoàn La Mã dưới thời Hoàng đế Titus phá hủy đền thờ Jerusalem lần nữa. Người La Mã cấm họ xây lại đền ở nền cũ, lại đổi tên Jerusalem ra tên Aelia Capitolina, đổi tên Israel ra Palestine, theo cách gọi của họ như một cách để xóa bỏ gốc gác của người dân Israel, khiến họ quên đi nguồn gốc của mình.

Về thực chất, Israel/Palestine đều nói đến vùng đất Canaan (hay Levant – Đất Thánh) trong Kinh Thánh, tức là phần lãnh thổ Israel/Palestine ngày nay. 

Miền Đất Hứa

Khảo cứu nguồn gốc của người Do Thái cho thấy: Vùng đất Palestine, Jerusalem được dân Do Thái xem là xứ sở mà Thiên Chúa đã ban cho họ để sinh sống đời đời, không ai có quyền cướp được.

Jerusalem là thủ đô của vương quốc Israel cổ đại từ thế kỷ thứ 10 TCN khi vua David dựng đô, hơn 1,600 năm trước khi người Ả Rập chiếm được thành phố này. Mặc dù người Hồi giáo tin rằng Jerusalem là nơi mà nhà tiên tri Muhammad đã bắt đầu hành trình lên Thiên giới, thế nhưng hoàn toàn không có bằng chứng nào chứng minh rằng Muhammad đã từng đặt chân tới thành phố này. Cả người Ả Rập cũng chỉ chiếm được nó vào thời điểm 5 năm sau khi Muhammad qua đời. Thành phố Jerusalem thậm chí còn không được đề cập đến trong kinh Koran của đạo Hồi, ngược lại Kinh Cựu Ước của Do Thái giáo đã nhắc đến Jerusalem tổng cộng hơn 600 lần. 

Sở dĩ dân Do Thái đã tranh đấu suốt mấy ngàn năm bất chấp mọi sự vùi dập, tàn sát để chiếm lại những vùng đất tại Trung Đông, bao gồm cả vùng Sinai, một phần Ai Cập, Syrie, Liban… là căn cứ vào lời phán truyền và lập thệ của Yahweh – Đức Chúa đã sáng tạo ra trời đất và muôn vật – với Abraham, cho quyền con cháu Abraham và Isaac (tức là dân Israel) được làm chủ những vùng đất tại Trung Cận Đông hiện giờ.

Những điều ghi chép trong Cựu Ước, liên quan đến việc lập thệ giữa Yahweh và Abraham–Issac là đức tin tuyệt đối, tín đồ Do Thái giáo hay Công giáo cũng như Tin Lành đều biết rõ việc Thiên Chúa ban đất cho tổ phụ của người Do Thái là một sự thật. Đó là nguồn cơn vì sao người Israel chiếm lại miền đất mà Thiên Chúa ban cho họ.

“Sang năm về Jerusalem!”

Vì mất tổ quốc, phải lang thang phiêu bạt khắp nơi, không ở đâu được yên ổn, tới đâu cũng bị kỳ thị, hắt hủi, trục xuất, hành hung, chém giết, giữa những thời kỳ nghiệt ngã và đầy máu lệ, người Israel không khi nào nguôi nỗi niềm tha thiết trở về Jerusalem – kinh đô Israel trong Thánh Kinh – và luôn tin rằng số phận sẽ dẫn họ trở về khi Đấng Cứu Thế xuất hiện

Mỗi ngày ba lần, người dân Do Thái nào cũng đọc kinh cầu nguyện xin Thiên Chúa sớm phục hồi lại xứ Israel cho dân tộc của Ngài. 

Mỗi ngày ba lần, người dân Do Thái nào cũng đọc kinh cầu nguyện xin Thiên chúa sớm phục hồi lại xứ Israel cho dân tộc của Ngài.  (Ảnh: Pixabay)

Dù gặp nhau ở chân trời góc bể nào, khi chia tay họ cũng chúc nhau: “Sang năm về Jerusalem!”

Israel thành một miền đất hứa, một Thiên đường trong tâm trí họ: “Người nào chỉ cần đặt chân lên Israel thì khi chết cũng được lên Thiên đường.”

Có những người không bao giờ được thấy Israel, chỉ nghe tổ tiên nói chứ cũng không biết nó nằm ở đâu trên bản đồ thế giới, vậy mà tới mùa gặt cũng làm lễ, rồi cầu nguyện, nhảy múa, ca hát, chúc nhau “Sang năm về Jerusalem!”

Theo Thánh Kinh, ngày Sabbath tức ngày thứ bảy, cấm không được buôn bán, nhưng nếu mua nhà cửa, đất cát ở Palestine thì vẫn được. Người nào không được sống ở Đất Thánh thì cũng mong chết ở đó, và nếu không được chết ở đó thì lại mong xác mình sẽ được “lăn dưới đất tới thung lũng Cedron” gần Jerusalem, hoặc gối đầu lên một túi nhỏ đựng một nắm đất ở Palestine.

Quanh năm từ khắp nơi trên thế giới, từng đoàn người Do Thái hành hương đến Jerusalem, quỳ xuống khóc nức nở ở di tích còn lại của đền Solomon sau cuộc chiến với người La Mã năm 70 – nơi bức tường phía Tây còn sót lại, vì thế bức tường đó có tên là Bức tường Than khóc (The Wailing Wall)

Trên bờ sông Babylone

Chúng tôi ngồi khóc than

và nhớ Sion!

Bức tường than khóc (The Wailing Wall). (Ảnh: Pixabay)

(*Sion: chỉ Núi Đền, di tích thiêng của người Israel ở Jerusalem)

Quan điểm được trình bày trong bài viết này là của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Epoch Times Tiếng Việt.

Đan Thư