Thẩm-mỹ là một bản-năng của đời người. Tết đến, nhiều nhà trong thành-phố trên mặt bàn gụ hoặc lát thường bày một cốc thuỷ tiên thơm tho hay một bình hoa xinh tươi, rực rỡ…

Sau những phút tàng tàng vì chén xuân, ta thử lặng yên một lát mà ngắm-nghía những  nhoẻn cười có duyên và những nét tươi tắn mơn-mởn của các hoa, ta không khỏi nức tiếng ca tụng thán phục cái tài của thơ Tạo : “Thiên cao, địa hạ, vạn vật tán thù”.

Thuỷ-tiên ! nàng như cô tiên trong thuỷ cung đượm những thanh-tú nhẹ-nhàng và êm-dịu. Với tay mềm mại muôn muốt nàng dâng cho khách thưởng ngoạn những chén vàng dĩa ngọc, toả ra hương-vị thoang thoảng, thanh thanh. Từ chiếc lá dài kiều-mỵ đến những rễ trắng nõn nà dễ gieo cho người một cảm-giác lâng lâng nhẹ nhõm. Cái gốc màu ngà kết bằng những bẹ trắng, từng lớp từng đợt, ấm cúng chặt chẽ..

Ngoài những hương sắc dáng yêu quý ấy, thuỷ-tiên sau khi làm xong thiên-chức thiêng-liêng là nâng tinh thần loài người lên cõi thanh cao, còn hi-sinh một cách “triệt-để” : đem tấm thân tàn mà bó rịt những mụn sưng và nhọt đau cho thiên-hạ, thoe quyền “chỉ-huy” và “điều-khiển” của nhà lương-y đông-phương.

Khoác những áo màu hoặc vàng, hoặc trắng, hoặc phớt tím, hoặc tía nhợt, hoa cúc như một nàng có nhiều áo nhất đời. Chẳng thế, Lý thời-Trân đã phải nói : “Cúc có đến 900 thư”.

Ở Tàu, cúc thường nở rộ từ tháng chín. Nói theo tiếng văn chương, người ta gọi tháng chín là “cúc nguyệt”. Về văn liệu, Kiều có câu : “Xuân lan, thu cúc, mặn mà cả đôi”.

Ở ta, những nhà trồng hoa lành nghề biết cách hãm cúc, đến gần tết mới cho trổ bông,  đầu tháng giêng âm-lịch chính là mùa cúc cười múa tưng bừng.

Mỗi khi tết đến, ta được ngắm nghía những bông hoa cúc vàng nở to bằng cái mặt đĩa : những cánh hoa mỏng, dài, đầu cong như chiếc móng, chờn-vờn ôm-ấp lấy cánh bé nhỏ nhu-nhú ở trong, ta có cảm tưởng như được ấp-ủ giữa bầu xuân-hoà êm-đềm ấm-áp.

Thấy cúc mà người xưa đã khen tặng là một thứ “hoa ẩn-dật”, ta lại sực nhớ đến những bực danh nhân xưa đã từng bầu bạn với cúc :

Ông Đào Uyên-Minh đời Tấn, không chịu khom lưng vì năm đấu gạo, nên khảng-khái về vườn trồng hoa, tháng ngày vui vầy với cây tùng khóm trúc.

Ông Trương Hán-Siêu nổi tiếng là một nhà chính-trị kiêm văn học ở đời Trần, sau khi làm tròn nghĩa-vụ đối với quốc-dân, đã có những ngày ngao-du sơn thuỷ, trồng cúc ở Thuý-sơn (Ninh-bình), để lại cho đời sau một mùi hương trên trang lịch-sử.

Ngoài những đóa hoa hoàn-toàn đông-phương, các “nàng tiên” trong sổ “quần-phương”  khéo làm cho Đông Tây gặp nhau giữa bầu không-khí dịu-dàng êm-ả: hoa mõm chó (gueule-de-loup) phô những màu sắc vàng, trắng, đỏ, tím xen nhau, thè lười như muốn quyện mừng xuân khách.

Hoa “giơn” (glaieul), giò cao, lá dài, nhỏ bản và nhọn đầu, xẻ ra từng bẹ cách quãng, nâng-đỡ lấy những bông hoa gián sắc mượt mặt như nền nhung tươi.

Không chịu kém cạnh, các hoa “cẩm-chướng sim”, “Cẩm-chướng-phăng” cũng hoà theo màu xuân, phô hương thi sắc khi đứng trong chiếc bình pha-lê, ang thuỷ-tinh, lọ đồng hoặc ống sứ…

Hoa Xuân, các “nàng” đã cung hương thơm sắc đẹp cho chủ và khách trong dịp thưởng xuân, các “nàng” cũng nên bay hương ra chiến-trường, yên-ủi quân-sĩ đang gánh trọng trách gìn-giữ đất nước và hơn nữa, các “nàng” nên dâng nén tâm-hương, cầu nguyện cho thế-giới mau được vui hưởng đóa hoa hòa-bình hạnh-phúc.

HOA-NAM 

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)