Khi còn nhỏ, Einstein chậm biết nói. Sau này, ông nhớ lại: “Cha mẹ tôi lo đến mức họ phải nhờ bác sĩ khám.” Ngay cả sau khi biết nói, lúc hơn hai tuổi, ông mắc một tật khiến những thành viên khác trong gia đình xem ông “gần như chậm phát triển”. Đó là vì mỗi khi muốn nói điều gì, ông lẩm bẩm với chính mình trước, cho đến khi nghe rành mạch đủ để phát thành tiếng.

Một mô hình sáp của Albert Einstein được trưng bày tại Chi nhánh Berlin của Madame Tussauds ở Berlin, Đức, ảnh tập tin. (Ảnh Steffen Kugler / Getty)

Người em gái mà ông rất mực quý mến nhớ lại: “Mỗi câu anh ấy nói ra, bất kể nó thông thường thế nào đi nữa, anh ấy đều lẩm nhẩm lặp lại”. Theo bà, chuyện đó thật đáng lo: “Anh ấy gặp khó khăn với ngôn ngữ đến mức những người xung quanh đều sợ anh ấy chẳng bao giờ học nổi.”

Sự chậm phát triển của ông lại kết hợp với tính nổi loạn bất tuân quyền uy, khiến một giáo viên đuổi học ông; còn một giáo viên khác cho rằng ông sẽ chẳng bao giờ làm nên trò trống gì. 

Về chuyện phát triển chậm của mình, ông tin rằng chính điều đó cho phép ông không ngừng kinh ngạc khi quan sát các hiện tượng hàng  ngày mà những người khác cho là hiển nhiên. Ông giải thích:

“Khi tôi tự hỏi làm thế nào tôi lại là người khám phá ra Thuyết tương đối, thì có vẻ nguyên do nằm ở hoàn cảnh sau đây. Những người lớn bình thường chẳng bận tâm suy nghĩ về các vấn đề không gian và thời gian. Đây là những điều mà người ta thường chỉ nghĩ khi còn nhỏ. Nhưng tôi phát triển chậm đến mức mãi đến khi trưởng thành, tôi mới bắt đầu thắc mắc về không gian và thời gian. Bởi thế mà tôi có thể tìm hiểu vấn đề này sâu hơn một đứa trẻ bình thường.”

Ông thường thích suy nghĩ bằng hình ảnh, nhất là trong những thí  nghiệm tưởng tượng nổi tiếng, chẳng hạn tưởng tượng ra mình đang quan sát những tia sét khi ngồi trên một tàu lửa đang di chuyển, hoặc trải nghiệm trọng lực khi đứng trong một thang máy đang rơi. Sau này, ông nói với một nhà tâm lý học: “Tôi rất hiếm khi nghĩ bằng lời. Một ý nghĩ nảy ra, và sau đó tôi mới có thể cố diễn tả nó bằng lời.”

Ông may mắn được sinh ra trong một gia đình có nền tảng tri thức, có lối suy nghĩ độc lập, xem trọng giáo dục – những điều chắc chắn ảnh hưởng đến cuộc sống của ông. Cha của Einstein, ông Hermann, sinh năm 1847 tại ngôi làng Buchau ở Swabia, nơi có cộng đồng người Do Thái phát triển. Hermann thể hiện “thiên hướng toán học rõ rệt”. Cha của Eintein đã sớm nhận ra ông không phải là một đứa trẻ ngốc mà chính là có đặc điểm của một nhà khoa học, luôn thích tĩnh lặng suy nghĩ và đặt ra những câu hỏi lạ lùng. Còn mẹ Einstein là một phụ nữ thông minh và hiểu biết, bà đã luôn ở bên cạnh động viên giúp ông lấy lại sự tự tin.

Em gái ông là Maria, thường được gọi bằng cái tên Maja ngắn gọn hơn nhưng lại được dùng suốt đời cô. Khi lần đầu được nhìn cô em gái mới sinh, cậu bé Albert tin rằng cô bé trông như một món đồ chơi tuyệt vời của mình. Cậu nhìn cô bé và thốt lên: “Vâng, thế những chiếc bánh xe ở đâu ạ?” 

Dù hồi nhỏ hai anh em cãi nhau vài lần, nhưng sau này Maja đã trở thành người bạn tâm giao thân thiết nhất của ông.

Cậu bé có khuynh hướng cô độc

Gia đình Einstein sống trong một ngôi nhà tiện nghi có cây cối sum suê và khu vườn đẹp ở vùng ngoại ô Munich, một cuộc sống mang hơi hướng tầng lớp trung lưu, chí ít là trong phần lớn thời thơ ấu của Albert.

Khu vườn sau nhà Einstein thường tràn ngập tiếng cười nói của những người anh chị em họ và đám trẻ con. Nhưng ông không tham gia những trò chơi ầm ĩ đó, mà “bỏ hết thì giờ cho những việc trầm lặng hơn”. Nhìn chung, ông là một người cô độc, suốt đời ông đều có khuynh hướng đó. Theo Philipp Frank, một đồng nghiệp khoa học lâu năm của ông: “Ngay từ đầu, ông ấy đã có khuynh hướng tách mình khỏi những đứa trẻ đồng lứa, đắm trong mơ mộng và đăm chiêu suy nghĩ.”

Những nhận thức quan trọng trong thời thơ ấu thường mất dần trong ký ức. Nhưng đối với Einstein, một trải nghiệm diễn ra khi ông chừng bốn hay năm tuổi đã làm thay đổi cuộc đời ông, và khắc sâu mãi mãi trong tâm trí ông – cũng như trong lịch sử khoa học.

Một hôm, ông bị ốm, phải nằm trên giường, cha ông mua cho ông một chiếc la bàn. Về sau, ông nhớ lại mình đã phấn khích khi thấy được sức mạnh bí ẩn của nó, đến nỗi ông run rẩy và lạnh hết cả người. Việc chiếc kim nam châm chuyển động cứ như bị một trường lực ẩn nào đó tác động, thay vì thông qua phương pháp cơ học quen thuộc như chạm vào hay tiếp xúc, đã khiến ông kinh ngạc; đây chính là động lực thúc đẩy ông suốt cuộc đời. Một lần, khi nhớ lại sự việc này, ông đã viết: “Tôi vẫn có thể nhớ, hay chí ít là tôi tin mình có thể nhớ, rằng trải nghiệm này đã tạo nên một ấn tượng sâu sắc và lâu dài trong tôi. Phải có điều gì đó ẩn rất sâu đằng sau mọi việc.”

Mãi mãi là một đứa trẻ tò mò về bí ẩn của vũ trụ

Trong cuốn “Einstein in Love” viết về thời kỳ đầu trưởng thành của ông, khi những khám phá khoa học quan trọng của ông được thực hiện, Dennis Overbye viết “Đó là một câu chuyện mang tính biểu tượng, cậu bé run rẩy trước trật tự vô hình ẩn sau thực tại hỗn độn.” 

Bộ phim IQ sử dụng hình ảnh Einstein, do Walter Matthau đóng, đeo chiếc la bàn lên cổ, và hình ảnh đó là trọng tâm trong cuốn sách cho thiếu nhi có tên “Rescuing Albert’s Compass” (Giải cứu chiếc la bàn của Albert) của Shulamith Oppenheim, mà cha vợ của tác giả là người đã nghe câu chuyện này từ chính Einstein vào năm 1911.

Sau khi bị mê hoặc bởi sự trung thành của chiếc kim la bàn với một trường vô hình nào đó, Einstein đã cống hiến cả đời cho các lý thuyết trường và xem đây là cách để mô tả tự nhiên. “Thuyết tương đối rộng” của ông dựa trên các phương trình mô tả trường hấp dẫn. Đến tận cuối đời, ông vẫn kiên trì viết nguệch ngoạc thêm các phương trình trường với hy vọng chúng sẽ đặt nền tảng cho một học thuyết về vạn vật. Như nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Gerald Holton đã viết, Einstein xem “khái niệm cổ điển về trường là cống hiến lớn nhất cho tinh thần khoa học”.

Trong suốt cuộc đời mình, Albert Einstein luôn giữ được trực giác và sự kinh ngạc của một đứa trẻ. Ông chưa bao giờ mất đi cảm giác ngạc nhiên trước sự kỳ ảo của các hiện tượng tự nhiên như từ trường, lực hấp dẫn, quán tính, gia tốc, tia sáng, mà những người trưởng thành thấy quá đỗi bình thường. Ông vẫn giữ được khả năng đồng thời có hai luồng suy nghĩ, băn khoăn khi thấy chúng mâu thuẫn, cũng như kinh ngạc khi phát hiện một sự thống nhất cơ bản. Sau này, ông viết cho một người bạn: “Những người như anh và tôi chẳng bao giờ già đi cả. Chúng ta không bao giờ chịu đứng yên, giống như những đứa trẻ tò mò, trước cái chốn bí ẩn vĩ đại mà chúng ta được sinh ra.”

Lam Khanh