Nguyễn – Khoái

Tháng ba năm Mậu-tí (1288), Hưng-đạo vương sai Nguyễn Khoái dẫn binh lẻn qua đường tắt lên mé thượng-lưu sông Bạch-đằng, kiếm gỗ, đẽo nhọn, bịt sắt, đóng giữa giòng sông, rồi phục binh chờ nước thủy triều lên thì đem quân ra khiêu chiến, dử cho thuyền giặc Nguyên qua chỗ đóng cọc, hễ thấy nước thủy triều rút xuống thì quay binh lại, hết sức đánh. 

Nguyễn-Khoái theo đúng chiến lược ấy. Quân Nguyên trúng kế, thuyền mắc phải cọc, đổ nghiêng, đổ ngửa, đăm vỡ rất nhiều. Quan quân thừa thắng đánh cực hăng, quân Nguyên chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông. Nhiều tướng Nguyên như Ô-mã-Nhi, Phàn-Tiếp Tích-Lệ-Cơ-Ngọc đều bị bắt cả. Riêng Nguyễn-Khoái bắt được Áo-lỗ-Xích.

Tháng tư năm Kỷ-sửu (1299), định công hành thưởng: Nguyễn Khoái được phong là Liệt-hầu. Vua ban cho một ấp thang-mộc,đặt tên là Khoái-lộ tức là phủ Khoái-châu (Hưng-yên) ngày nay.

Đỗ – Hành 

Trận Bạch-đằng, Đỗ-Hành bắt được tướng Nguyên là Ô-mã-Nhi. Sau định thưởng, Đỗ-Hành được phong làm Quan Nội-hầu.

Lê-phụ-Trần 

Dưới triều Trần Thái-Tôn, quân Mông-cổ tuy thua, phải rút về, nhưng chẳng bao lâu vua Mộng-cổ lấy được nước Tàu, bèn sai sứ sang đòi nước Nam phải triều công. Vua Thái-Tôn muốn làm kế hoãn binh, sai Lê-phụ-Trần đi sứ, xin cứ ba năm sang cống một lần.

Sau quân Mông-cổ lại sang quấy nhiễu, Tháng 12 niên-hiệu Nguyên-phong thứ 7 (1259), tướng Nguyên đến đánh đất Bình-lê-nguyên. Vua Thái-Tôn tự làm tướng, ra đốc chiến, xông-pha tên đạn. Thế giặc mạnh; quan quân tìm đường rút lui. Vua ngảnh lại nhìn tả, hữu, chỉ thấy một mình Lê-phụ-Trần ra vào chiếc địa, nét mặt nhưng-nhưng, không biến sắc. Vua khen là tướng giỏi, tôi trung.

Đỗ – khắc – Chung 

Đỗ-khắc-Chung người vùng Anh-sơn thuộc tỉnh Hải-dương.  Niên-hiệu Thiên-bảo thứ 7 (1286), quân Nguyên kéo về đóng tại bến Đông-bộ-đầu. Hưng-đạo-vương lập trại mé nam-ngạn đề phòng giữ. 

Vua Nhân-Tôn muốn sai người đi thám hư thực, nhưng khó tìm được người đủ tài-năng và dũng-cảm.

Chi-hầu Cục-thủ là Đỗ-khắc-Chung tình nguyện xin đi.

Vua ban khen: “ Ngờ đâu xe muối mà lại có ngựa kỳ, ngựa kỳ như thế !”, rồi giao thư cho Khắc-Chung đem sang trại Nguyên. 

Khi ấy, các tướng-sĩ quyết chí đánh giặc, người nào cũng lấy mực thích vào cánh tay hai chữ “ Sát Thát », nghĩa là giết quân Mông-cổ.

Đỗ-khắc-Chung đem thư đến trại giặc ý tưởng Nguyên tỏ thái-độ không bằng lòng việc quân ta thích chữ “Sát Thát”

Khắc-Chung đáp rằng: “ Con chó tự nó cắn người lạ, chứ có phải do chủ nó xui đâu! Vì lòng công-phẫn,quan-sĩ tự thích chữ Sát Thát, chứ thực quốc-chủ tôi không biết tới việc đó, Ngay tôi đây là cận thần, nếu có lệnh trên, sao riêng một mình không thích chữ ? 

Khắc-Chung bèn giơ cánh tay cho xem, rồi nói tiếp: “Hiền- tướng không theo chính sách của Hành Tín bình Yên ? Vua tôi cho đưa thư-tín muốn cùng thông-hiểu; nếu không thông-hiểu, ấy là cái lỗi hiền tướng! Kẻ anh hùng không nên lấy cường lực áp-bức người khác. Ta thường nói: Muông thú đến lúc cùng thời cắn tại; chim cùng thời mổ lại, huống chi là loài người !”.

Sau khi Khắc-Chung từ biệt ra về, tướng Nguyên quay lại bảo các thuộc-hạ: “Con người ấy đương lúc bị uy-chế mà nhời-nhẽ tự-nhiên, ứng-đối trội-chảy, thực không phục đến quân-mệnh ! Nước họ còn có người giỏi như thế, chưa dễ đã mưu-đồ được !”.

Sau Đỗ-khắc-Chung làm quan đến chức Đại-hành-khiển và được theo họ nhà vua.

Phạm – Ngộ 

Niên-hiệu Trùng-hưng (1285-1293). Phó tướng nhà Nguyên xâm-phạm trại Yên-hưng (Quẳng-yên). 

Thái-thượng-hoàng và vua Nhân-Tôn thân chính đi đánh giặc. Hưng-đạo vương làm tướng Trung-quân, có văn-thần Phạm-Ngộ tham giúp việc quân; gia-tướng Yết-Kiêu, Đa-tượng làm tả, hữu Vệ-úy tướng-quân; Cao-Mang, Đại-Hành làm nền, hậu vệ úy tướng-quân; cùng chia đường tiến đánh.

Sau khi thắng trận khải hoàn, vua Trần-Nhân-Tôn thưởng công: Phạm-Ngộ được hưởng 80 m2 ruộng thế-lộc. Phạm-Ngộ và em là Phạm-Mai đều là danh-thần thời bấy giờ.

Về sau, họ Phạm ở ba làng Kính chủ (huyện Anh-Sơn), Dũng-liệt (huyện Yên-phong) Tim-đôi (huyện Võ giàng) đều là giòng dõi Phạm-Ngo.

Trần – bình – Trọng 

Niên-hiệu Thiệu-bảo (1279-1984), sau khi Thăng-long thất thủ, Trần-bình-Trọng vâng lệnh Hưng đạo vương, ở lại giữ Thiên-trường, cự nhau với quân Thoát Hoan, rồi rước xa-giá ra Hải dương. 

Ở Thiên-trường, Trần-bình-Trọng được tín quân Nguyên đã đến khúc sông Thiên-mạc (phủ Thoái-châu. Hưng-yên), vội-vàng đem thuyền và quân ra đánh ở Đà-mạc. Giặc thấy quân ta ít bèn đem toàn lực đến vây. Bình-Trọng không may bị bắt nộp Thoát-Hoan. Thoát-Hoan vốn nghe tiếng Bình-Trọng là tướng tài, muốn khuyên dỗ về hàng, thết đãi tử tế; nhưng Bình-Trọng không ăn, Hỏi dò việc nước, Bình Trọng không nói.

Sau Thoát-Hoan hỏi: “Có muốn làm vương đất Bắc không ?”

Bình-Trọng to tiếng quát: “ Tao thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Tao đã bị bắt chỉ có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi-thôi nữa !”. 

Thoát-Hoan dỗ mãi không được, sai quân đem chém.

Thánh-Tôn thượng-hoàng cùng Nhân Tôn và Hưng-đạo vương nghe tin Trần-bình-Trọng tử-tiết, động lòng thương xót, truy tặng làm Trang-thần Bảo nghĩa-vương.

Hà – Đặc 

Niên hiệu Thiệu-Bảo (1279-1284), giặc Nguyên xâm phạm sông Thiên-mạc, đem du-binh tiến đến huyện Phú-ninh. Phụ-đạo tử Hà-Đặc treo lên núi Trĩ – sơn cố thủ. Quân Nguyên đóng đồn ở động Cự-đà. 

Hà -Đặc lấy trẻ làm bồ-dìn, cho mặc áo, đến đêm dẫn cho đi lại, đề giặc tưởng người thực, đem lòng ngờ, giặc quả nhiên sợ, không dám giao chiến.

Quân ta cố sức phá vỡ quân địch. Giặc chạy trốn; Hà-Đặc đuổi theo đến đất A-lạc, làm cầu nối sang sống, đánh nhau với giặc, đến nỗi phơi mình nơi chiến-địa ! 

Em Hà-Đặc là Hà-Chương bị giặc bắt. Chương lấy cờ và áo của quân Nguyên, trốn về dâng vua, xin vua dùng cho quân ta trá binh làm quân địch. Quân Nguyên trong lúc vô tình, bị quân ta đánh vỡ.

Hai anh em, Hà-Đặc và Hà-Chương thực có công to trong trận bình Nguyên,

Trần – thời – Kiến 

Trần-thời-Kiến, người xã Cự-tác thuộc huyện Đông-triều (Hải dương), được Hưng-đạo vương tiến cử làm An-phủ sứ phủ Thiên-trường.

Thời-Kiến làm quan rất liêm khiết. Một ngày kia, có người dâng một mâm cỗ; Thời-Kiến từ chối không nhận. Sau người ấy trình bày: “Vì chỗ lân cận, biếu cỗ để tỏ tình thân, chứ không cầu xin việc gì”. 

Thời-Kiền nghe nói, bất đắc dĩ phải nhận cỗ.

Nhưng chẳng bao lâu, người biếu cỗ ấy có việc đến nhờ cậy Thời-Kiến. Thời-Kiến bèn móc họng thổ ra.

Sau được bổ làm Kiểm-pháp-quan. Phàm các việc tố tụng, ông cứ theo lý mà xét xử. Việc to đến đâu cũng ứng-đãi có phương-pháp. 

Kip đến khi nhập nội, được gia thăng làm Hành-khiển Hữu-giám-nghi đại-phu.

Vua Trần-Anh-Tôn ban cho một cái hốt đề nêu rệt tấm lòng cương trực của ông.

NHẬT NHAM

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)