Trần-Quang-Khải

Chiêu-minh đại-vương huý là Quang-Khải, là con thứ hai vua Thái-tôn.

Sau khi Kinh-đô thất thủ, Hưng đạo-vương rước Thánh-tôn Thượng-Hoàng cùng Nhân-tôn vào Thanh-hoá, rồi tiến quân đánh Thoát-Hoan để khôi phục Kinh-thành, Thượng-tướng Trần-Quang-Khải từ Nghệ-An ra, xin đi đánh Thoát-Hoan.

Khi bấy giờ đại binh của Thoát-Hoan đóng tại Thăng-Long, còn chiến thuyền đóng ở bến Chương-dương (thuộc phủ Thường – tín bây giờ).

Trần-Quang-Khải cũng Phạm-Ngũ-Lão và Trần-quốc-Toản đem quân từ Thanh-hoá đi thuyền theo đường bể ra bến Chương-dương, sấn vào đánh thuyền quân Nguyên. Quan quân khí thế đang hăng; quân Nguyên địch không nổi, phải bỏ chạy. Quan quân lên bộ, đuổi đánh đến chân thành Thăng-long , chạy qua sông Hồng-Hà, sang giữ mặt Kinh-bắc (Bắc-Ninh).

Trần-Quang-Khải đem quân vào thành, mở tiệc khao thưởng quân sĩ. Giữa tiệc rượu, Quang-Khải tỏ lòng vui vẻ, ngâm bài thơ rằng :

Đoạt – sóc Chương-dương bộ,

Cầm Hồ Hàm- tử quan.

Thái bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang sơn.

Dịch :

Chương-dương cướp giáo giặc,

Hàm-tử bắt quân thù.

Thái-bình nên gắng sức,

Non nước ấy nghìn thu.

Rồi dâng biểu về Thanh- hóa báo tin thắng trận. Con là Văn-túc-Vương Văn-Bích làm quan đến Tháo bảo. Chắt là Chương túc Quốc thượng hầu Trần nguyên-Đán làm quan đến Tư đồ. Một nhà đức trạch thâm hậu, hiển danh trong một thời. Quang Khải mất năm Giáp ngọ (1294). Ông có tập thơ, nhan là “Lạc đạo thi tập”.

Trần-Nhật-Duật

Chiêu-văn đại-vương huý Nhật-Duật, là con thứ sáu vua Thái-tôn. Người có độ lượng, khi vui, lúc giận không lộ ra sắc mặt.

Tướng Nguyên là Toa-Đô tự Chiêm thành trở ra, qua Thuậnhóa, Nghệ – an. Thanh-hoá đường xá gập ghềnh, quân-sĩ vấtvả, lại vượt bể ra bắc. Nhân-tôn muốn đón đường đánh phá, bèn sai Trần-Nhật-Duật làm tướng, đem 5 vạn quân ra đón đánh Toa – Đô ở mặt Hải-dương.

Tháng tư năm Ất-dậu (1285) Trần-Nhật-Duật ra đến bến Hàm-tử (Khoái châu, Hưng-yên) gặp chiến thuyền của Toa-đô, bèn chia quân ra đánh.

Trước quân Tống chạy sang ta, đều đến ẩn mình dưới chướng Nhật-Duật. Trong bọn có tướng Triệu-dung, mặc áo Tàu, đeo cung, xin đi tùng chinh. Quân Nguyên thấy quân Triệu-Trung tưởng là người nhà Tống sang giúp An-Nam, nên đều sợ hãi, bỏ chạy như vịt. Quan quân thừa thế, đuổi giết hại rất nhiều. Toa-đô phải lùi ra giữ ở cửa Thiên-trường.

Tin thắng trận ấy đưa về Thanh Hóa, vua Trần cả mừng. Nhật-Duật thọ 77 tuổi.

Trần-Khánh-Dư

Niên hiệu Trùng-hưng (1285-1293). Hưng-đạo-vương đem việc phòng giữ mặt thuỷ phó thác cho phó tướng Vân-đồn là Trần-Khánh-Dư.

Quân Nguyên đóng ở Vạn-kiếp lâu ngày, lương thực sắp cạn. Thoát hoan sai Ô-mã-Nhi dẫn thuỷ quân ra cửa bể Đại-bàng (Hải-dương) đón thuyền lương của Trương-văn-Hổ. Ô-mã-Nhi đến Vân-đồn (Quảng – yên) gặp quân Khánh-Dư ra chặn đường, hai bên đánh nhau kịch kiệt. Quân Khánh-Dư thua chạy, quân Nguyên thẳng đường ra bể.

Khánh-Dư thất trận, đang nghĩ kế phục-thù, bỗng thấy Thượng-hoàng sai sứ ra bắt về trị tội. Khánh-Dư xin khất vài ngày để lập công chuộc tội.

Mấy hôm sau, Ô-mã-Nhi gặp thuyền lương của Trương-văn-Hổ, lại đem quân trở vào, đi trước dẹp đường; còn Trương-văn-Hổ đem thuyền lương theo sau.

Khánh-Dư hội các chiến thuyền, thu nhặt tàn binh, phục sẵn, đợi thuyền lương của Trương-văn-Hổ đến thì đổ ra đánh.

Quả nhiên, Trương-văn-Hổ tải các thuyền lương vào của bể Lưu-thuỷ-Dương (châu Hoành-bồ).

Khánh-Dư đổ quân ra đánh, bắt được tư lương, khí giới và tù binh rất nhiều. Trương-văn-Hổ trốn về Quỳnh-Châu.

Khánh-Dư thắng trận, đưa thư về báo tiệp. Thượng hoàng mừng rỡ xá tội trước và bảo Hưng đạo Vương: “Nay quân ta đã cướp được hết lương thảo, khí giới của giặc Nguyên, thế chúng tất không thể tràng cửu được. Vậy ta nên tha cho những quân bị bắt cho về báo tin với Thoát-Hoan, cho quân Nguyên ngã lòng, bấy giờ phá mới dễ”.

Tù binh Nguyên được tha về, quân sĩ của Thoát-Hoan náo động chỉ tưởng đường lui, không còn đấu chí nữa.

Trần-Khánh-Dư vì có công trong trận Vân-Đồn, nên được phong là Nhân huệ Vương.

Hiện nay, có miếu thờ trên bến Linh giang (huyện Chí-linh). Trước miếu có hòn đá dài hai thước, tục truyền là hòn đá nổi, không ai dám đến gần.

NHẬT NAM

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)