Nguyên văn chữ hán

滕王高閣臨江渚,

佩玉鳴鸞罷歌舞。

晝棟朝飛南浦雲,

珠簾暮捲西山雨。

閒雲潭影日悠悠,

物換星移幾度秋。

閣中帝子今何在,

檻外長江空自流。

Đằng Vương cao các lâm giang chử,

Bội ngọc, minh loan, bãi ca vũ !.

Hoạ đống, chiêu phi Nam phố (1) vân,

Chu liêm mộ quyển Tây Sơn (2) vũ.

Nhàn vân, đam ảnh nhật du du,

Vật hoán, tinh di kỷ độ thu.

Các trung đế tử kim hà tại ?

Hạm ngoại Trường Giang không tự lưu.

Dịch 

Đằng Vương, gác cũ, bên sông ngất. 

Loan, ngọc còn đâu ! ca múa tắt! 

Nóc vẽ, sớm bay mây lửng lơ. 

Mành son, tối cuốn mưa phăn phắt. 

Ngày dài, đầm ánh bóng mây chơi… 

Sao dời, vật đổi, mấy thu rồi ! 

Con vua trong các nay đâu tá ? 

Sông rộng, ngoài hiên, nước chảy xuôi… 

Chú giải 

“Đằng Vương các” là một cái nhà gác của Đằng Vương Nguyên Anh, con vua Đường Cao Tổ, khi làm thứ sử, dựng ở Hồng Châu (nay là phủ Nam Xương thuộc tỉnh Giang Tây bên Tàu).

“Giang-chử” là một cái bãi nhỏ trong sông.

“Bội ngọc”: xưa người quân tử tỏ ý muốn đức mình cũng được ôn hòa thuần khiết như ngọc, nên hay đeo ngọc ở nơi đai. Xe nhà qúi phái xưa thường chạm chim loan, miệng chim loan có ngậm cái nhạc, hễ xe đi thì nhạc kêu, nên gọi là “ minh loan”

“Đống” là cái gỗ đặt trên các đầu kéo, tức là cái gỗ nóc. 

Trong bài “Đăng Tây lâu phú” có hai câu cũng na ná giống lối đặt của hai câu thứ ba, thứ tư trong bài thơ này: “Họa đống phù tế tế chi khinh vân ; chu củng thấp mông mông chi phi vũ”. (Gỗ nọc vẽ vờn nổi mịn màng mây nhẹ; đầu nhà sơn đỏ nhuần phơi phới mưa bay).

Mấy chữ “nhật du du”, ta thấy câu thơ củu Thôi Hạo cũng có dùng đến: “Bạch vân thiên tải nhật du du…” (Mây trắng nghìn năm ngày đằng đẵng).

Ý toàn bài: tác giả bùi ngùi trước cảnh phồn hoa dễ tiêu tan !. Mở đầu nói cái cao các ở bên sông là nơi ngọc đeo, loan kêu của Đằng Vương xưa. Nhưng nay ? Cuộc múa hát đã tàn, nóc nhà và mành cửa cũng tiên điều, lạnh lẽo ! Mấy lơ lửng, mưa bẽ bàng, thời tiết cứ đắp đồi, cảnh vật cứ biến thiên, còn Đằng Vương là con vua thì nào đâu nhỉ ? Chỉ thấy phía ngoài cao các, nước sông lạnh lùng trôi,…

Bài thơ này nguyên là một đoạn cuối kết thúc bài “Đằng vương các tự”, một áng văn viết lối đối nhau từng câu, từng vế, rất hùng tráng, rất bay bướm, rất kênh kiệu, rất đẹp đẽ của Tử An (tên tự của Vương Bột). 

Diêm Bá Dư, khi làm đồ đốc Hồng Châu, đứng trùng tu cao các của Đằng Vương. Ngày mồng 9 tháng 9, Diêm làm tiệc ở cái cao các ấy đề thết khách,

Muốn phô con rể là Ngô Tử Chương có tài bộ đây, Diệm sai làm sẵn một bài tự đề, khi yến khách, cho rể cứ việc tuôn ra mà khoe khoang.

Bấy giờ Vương Bột nhân đi thăm cha là Phúc đang làm Giao Chỉ lệnh, tiện đường qua Hồng Châu, có ghé vào dự tiệc của Diêm.

Khi tấn khách đã tề tựu, Diễm lần lượt ngỏ lời xin cử tọa cho bài tự để kỷ thuật về “Đằng Vương các” và cuộc gặp mặt các văn gia, thi hào, võ tướng trong dịp hội ẩm bữa nay. (Diệm định ý: hễ khách từ chối cả, thì sai rể cứ việc tuôn đọc bài tự đã nghĩ sẵn từ trước).

Đến lượt Vương Bột. Vương phận lời ngay, không từ chối. Diêm khó chịu lắm, bèn mật sai một viên thuộc lại đến “kèm” Vương, hễ thấy Vương viết được câu nào thì lập tức phải trình báo ngay câu ấy.

Nhưng, khi xem đến câu: 

“Lạc hà dữ cô vụ tề phi ; 

“Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc…” 

(Ráng rụng cùng cò côi vũ cảnh ; 

Nước thu chung trời biếc màu da). 

Diệm phát thán phục:  “Vương Bột thật là một thiên tài !” 

Tiểu sử Vương Bột

Là người Long Môn (thuộc tỉnh Trực Lệ bên Tàu) đời Đường Cao Tông (650-683) Vương là hàng cháu đối với Tùy Vương Thông. Hồi lên sáu tuổi, Vương đã có khiếu văn chương.

Trong tứ kiệt hồi đầu Đường trên bọn Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân và Lạc Tân Vương, người ta phải kể đến tay “đầu đàn” là Vương Bột. .

Mỗi khi làm văn, Vương thường mài mực sẵn trước, rồi đắp chăn nằm nghĩ. Khi nghĩ xong. Vương vùng dậy, cầm bút viết luôn một mạch. Người đời bấy giờ gọi là lối giáp văn trong bụng (phúc cảo).

Năm 29 tuổi. Vướng đi biển, không may bị chết đuối: Làng thơ Đường mất một thiên tài, một thanh niên đầy hứa hẹn, một tương lai đầy rực rỡ !.

Đối với Vương, có nhiều lời bình luận khác nhau.

Bùi Hành Kiệm chê: “Bọn Bột tuy có văn tài, nhưng nông nổi, nóng nảy và lộ liễu …” (Cựu Đường thư, văn uyển truyện).

Lục Thi Ung phê bình: “Vương Bột thì cao cả, tài hoa, là tay anh kiệt hơn cả bọn Dương, Lư, Lạc. Phong điệu ăn vào lối Sơ Đường, thường thường vẫn ren màu sắc Lục Triều”. (Thi kinh tổng thoại)  

Các thi nhân hồi đầu đời Đường, phần nhiều vì quen theo cái lỗi tiêm xảo diễm lệ của Lục Triều, nên về mặt phong điệu thì đáng khen, nhưng về phần thi cách thì chưa được cao mấy ! Chính đối với Vương, lời phê bình ấy cũng không phải không đúng 

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(1, 2) Tên hai cái núi, vì có dịch lấy tinh thần, nên trong bài dịch bất đắc dĩ phải bỏ bớt hai núi này trong hai câu thứ ba và thứ tư.