Tiều dẫn 

Tháng ba năm Kỷ-Tị ( 1799 ), chúa Nguyễn-Ánh thấy thế Tây-sơn đã suy-nhược, bèn cử đại binh ra đánh Qui-nhơn. Quan Trấn-thủ Qui-nhơn cùng các tướng mở cửa ra hàng. Nguyễn-vương đem quân vào thành, đổi tên Qui-nhơn làm Binh-định, để Võ-Tính và Ngô Tòng-Chu ở lại trấn-thủ rồi về Gia-định.

Năm sau (1800), tướng Tây-sơn là Thái-phó Trần Quang-Diệu và Võ văn-Dũng đem thủy, bộ-quân vào lấy lại thành Qui-nhơn, sai đắp lũy chung-quanh thành và vây bốn mặt rất kín.

Năm Tân-dậu (1801), Nguyễn vương thấy quân Tây-sơn vây thành Qui-nhơn rất nghiêm-mật, đánh phá mãi không được, bèn cho người lẻn vào thành hạ-lệnh cho Võ Tính và Ngô Tòng-Chu bỏ thành mà ra. Võ-Tính phúc thư rång:

“Hiện nay: tinh-binh Tây-sơn cả Qui-nhơn; thành Phủ-xuân không phòng-bị. Nhân cơ-hội, xin nhà vua kíp ra đánh lấy Phú-xuân; đừng lo việc giải vây vội. Nếu phải hi-sinh tính-mệnh đề đổi lấy thành Phú-xuân, kẻ hạ-thần này thực rất sung-sướng.”

Nguyễn vương bèn để Nguyễn văn-Thành ở lại chống nhau với Tây-sơn, rồi đem đại-quân ra đánh Phú-xuân. 

Ngày 3 tháng 5 năm Tân-dậu (1801), quân Nguyễn-triều thu phục được thành Phú-xuân. Nguyễn-vương treo biển yên dân, rồi cho quân vào cứu Qui-nhơn, nhưng không kịp !.

Trong khi ấy, Trần Quang-Diệu ngày đêm hết sức đốc quân đánh thành Qui-nhơn. Quân Nguyễn-triều ở trong thành hết cả lương-thực. Liệu không thể chống-giữ được nữa, quan Trấn-thủ là Võ-Tính, bèn viết thư cho Trần Quang-Diệu: “Phận-sự ta làm chủ-tướng thì đành liều chết ở dưới cờ. Còn các tướng-sĩ không có tội gì, không nên giết hại”. Rồi sai người lấy rơm cỏ và củi chất ở dưới lầu Bát-giác, định tự đốt đề tuẫn tiết.

Một buổi sáng, Ngô Tòng-Chu đến hỏi kế Võ-Tính. Võ chỉ lầu Bát-giác, bảo rằng: “Ấy kể tôi đã định !. Thân làm chủ-tướng, bổn-phận tôi phải tuẫn-tiết, không thể cùng kẻ thù đội trời chung !. Nghĩa tôi phải thế đã đành. Còn ông là văn-thần, cũng nên tìm cách tự toàn.”

 Ngô cười, đáp rằng: “Lòng trung quân, ái quốc, ai cũng như ai, cứ gì văn với võ ? Tướng-quân muốn hi-sinh cho nước, còn tôi đây lại không biết chết để tỏ lòng trung hay sao ?”.

Nói xong, Ngô trở về, mặc đồ triều-phục, trông lạy về cửa khuyết, rồi uống thuốc độc tự tận. 

Được tin, Võ-Tính buồn rầu than rằng: “Thế ra Ngô đã đi trước ta một bước rồi !”. Rồi thân đến trông-nôm việc mai-táng cho Ngô rất chu-đáo.

Sau đó hai ngày, Võ Tính mặc đồ triều-phục, trèo lên lầu Bát-giác, quay lại bảo tướng-sĩ: “Từ ngày ta cầm quyền chủ- súy, mang trách-nhiệm trấn-thủ thành này, bị quân địch đông hơn vây hãm, thấm thoắt đã được hai năm. Nhờ lòng dũng cảm của các ngươi, nên ta mới cố thủ được tới ngày nay. Lương đã cạn, sức đã quyện, không thể kháng-chiến được nữa Vậy ta không muốn các người vì ta phải lầm-than mãi. Ta đi đây, ta chết để đem lại hạnh-phúc cho các ngươi”.

Các tướng-sĩ rất cảm động, lăn xuống đất, vừa than vừa khóc đề tỏ lòng thương-xót. 

Võ Tính vĩnh-biệt mọi người, trèo lên đống củi, sai Nguyễn văn-Biên đổ thuốc súng vào mà đốt. Nguyễn văn-Biên khóc, không dám vâng lệnh. Võ tự đốt mà chết. 

Tổng-binh Nguyễn tiến-Huyên theo gương Võ cũng nhảy vào lửa tuẫn-tiết. 

Trần quang-Diệu vào thành Qui-nhơn, tha cả bọn tướng-sĩ và sai làm lễ liệm-táng Võ-Tính.

Nguyễn-vương được tin, rất lấy làm thương-xót, bèn truy tặng Võ Tính tước Dực-vân công-thần. Phụ-quốc thượng-tướng-quân thượng-trụ-quốc. Thái-úy quốc-công thiếu-trung-liệt.

Tháng 5 năm Nhâm-tuất 1802, Nguyễn-vương lên ngôi hoàng-đế niên-hiệu là Gia-long. Tháng 7 năm ấy, vua Gia-long sai xây một cái đền ngay chỗ lầu Bát-giác cũ, trong thành Bình-định, đề thờ Võ-Tính và Ngô Tòng-Chu. Trong khi cử hành lễ khánh-thành, vua sai Đặng đức-Siêu làm bài văn tế sau này để đọc trong dịp trung-điệu hại vị trung-hưng công-thần của bản triều:

Văn tế 

“… Than rång :

“ Đạo thần-tử hết lòng thờ chúa, gian-nan từng giãi dạ trung thành. Đứng anh-hùng vì nước quên mình, điên-bái chẳng sai lòng tiết-nghĩa. Ngọc dẫu tan, vẻ trắng nào phai; trúc dẫu cháy, tiết ngay vẫn đề (1), 

 “ Nhớ hai người xưa: Thao-lược ấy tài; kinh-luân là chí. Phù vạc Hán (2) thủa ngôi trời chếch lệch (3), chém gai (4) đuổi  lũ hung-tàn. Vớt xe Đường (5) khi thể nước chông-chênh, cầm bút ra tay kinh-tế. Mối nghĩa sánh duyên gác tía (6), bước gian-chuân từng cây dạ khuông-phù (7) Màn kinh (8) giúp sức cung xanh (9) công mông-dưỡng đã đành lòng ủy-ký (10). Hậu-quan thủa trao quyền tứ-trụ, chữ ân uy nhớn nhỏ đều phu. Lễ bộ phen làm việc chính-khanh, bề trung-ái sớm khuya chẳng chễ. Ngoài cõi vuốt nanh (11) ra sức, chi tiêm cừu đành giãi xuống ba quân. Trong thành vững dạ chia lo, bề ưu-quốc đã thấu lên chín bệ (12). Miền biên-khổn (13) đôi năm chia sức giặc, vững lòng tôi bao quản thế la nguy. Cõi Phú-xuân một trận thét uy giời nặng việc nước phải lấy minh làm nhẹ (14). Sửa mũ áo lạy về bắc-khuyết (15), ngọn quang-minh (16) hun mát tầm trung-can (17). Chỉ non sông giã với cô-thành (18), chén tân-khổ (19) nhắp ngon mủi chính khí.

“ Há rằng ngại một phen thỉ-hạch (20), giải trùng-vi mà theo tới quân-vương ?. Bởi vì thương muôn mạng tì-hưu (21), thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ. Tiếng hiệu-lệnh mơ-màng trước gió, ân-tín xưa người bộ khúc thương tâm. Bóng tinh-trung (22) thấp thoáng dưới đèn, phong-nghi (23) cũ kẻ liêu-bằng (24) sái lệ (25).

“ Cơ đãng-định kíp chầy đành hẹn buổi, xót tướng-doanh sao vắng mặt thân-huân (26) !. Phận truy-tùy gang tấc cũng đền

công, tiếc nhung-mạc bỗng thiệt tay trung-trí !.

“Nay gặp tiết thu, bày tuần uy-tế. Hai chữ cương-thường (27) nghĩa nặng, rõ cổn-ba (28) cũng thỏa chốn u-minh. Nghìn thu hà nhạc khí thiêng (29), sắp mao việt 30 mở nền bình-trị

“ Thượng hưởng !

Chú-thích

Bài văn tế này trích ở bản chữ nôm Lệ-ngữ văn tập. Nhời văn lưu loát, không những lâm-ly thống-thiết lại còn hùng-tráng sâu-xa. đủ tiêu-biểu cho nền quốc-văn thời bấy giờ, một thời không những chỉ có võ-công, mà lại còn thêm văn-trị nữa !.

Dưới đây là chú giải những điển tích và chữ khó:

1) Ý hai câu này nói chết một cách trong sạch và giữ được dạ  trung-thành, lòng tiết nghĩa.

2) Hán-đỉnh, ngôi vua.

3) Ý nói Nguyễn-vương bị Tây-sơn đánh đuổi, tưởng chừng cơ nghiệp phải nghiêng đổ. 

4) Phùng-Dị đến kinh-sư triều kiến. Vua bảo các công-khanh: “Khi trẫm khởi nghĩa, người này là chủ-bộ của trẫm, đã từng không quản khó nhọc chém gai ở dọc đường để giúp trẫm định được Quan-trung”.

5) Địch-nhân-Kiệt kéo xe vua Đường Trung-Tôn đến Lô-lăng

6) Tử các, cung-các công-chúa. Võ-Tính lấy con gái vua Gia-long là Ngọc-Du. 

7) Vừa-giúp nhà vua.

8) Kinh ác, nơi vua họp các văn-thần để bàn luận văn-chương hay chính-sự. Ngô-tòng-Chu làm thượng-thư được dự bàn việc nước.

9) Thanh-cung, cung hoàng-tử. Ngô-tòng-Chg dạy hoàng-từ học. 

10) Phó thác việc dạy hoàng-tử cho Ngô-tòng-Chu. 

11) Ví quân-sĩ như nanh vuốt của nhà vua.

12 Cửu-bệ, chỉ bóng về vua. 

13) Nơi biên-giới. 

14) Coi cái chết nhẹ như lông hồng. 

15) Chỗ vua ngự. 

16) Ngọn lửa sáng và trong đã thiêu Võ-Tính. 

17) Lòng trung. 

18) Thành côi, không có quân cứu-viện.

19) Chén thuốc độc. Ngô-tòng Chu uống thuốc độc tự-tử. 

20) Tên đạn. 

21) Vật giống như loài hồ báo, chỉ quân-sĩ. 

22) Linh hồn kẻ trang liệt đã khuất phảng phất bàng-bạc trong ban đêm. 

23) Hinh-dung. 

24) Liệu bằng = bạn đồng liêu.

25) Giỏ nước mắt. 

26) Những người vừa có họ tôn-thất, vừa có công-trạng giúp nhà vua. 

27) Tam cương là ba rường (vua tôi, cha con, vợ chồng). 

28) Cổn ba nghĩa đen là áo hoa của người có phẩm tước, nghĩa bóng là ân-điển do nhà vua ban cho.

29) Ý nói vĩ-nhân đều do Tạo-hóa đúc nên bằng khí thiêng sông núi. Văn-thiên-Tường có nói trong bài Chính-khí ca: Trong trời đất có chính khí. Chính-khí có nhiều hình: Dưới thì là sông núi, trên thì là mặt trời và tinh tú, trong người ta thì gọi là khí hao nhiên. Khi ấy bành trướng ra thì có thể che lấp trời xanh và địa ngục tối đen.

30) Cờ mao, cờ việt.

NHẬT NAM

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)