Trung Quốc đang phải trả giá đắt cho những nỗ lực trừng phạt Úc bằng cách cấm hoặc hạn chế nhập cảng một số mặt hàng, trong khi ngược lại, Úc cho đến nay dường như đã tránh được mọi hậu quả tài chính nghiêm trọng.

Một chuyến tàu than của công ty Aurizon đi qua vùng nông thôn ở Muswellbrook, phía bắc Sydney, Úc, hôm 09/04/2017. (Ảnh: Jason Reed/Reuters)

Than là mục tiêu cao nhất của Trung Quốc trong danh mục hàng hóa của Úc. Bắc Kinh đã cấm gần như hầu hết các mặt hàng nhập cảng từ Úc nhằm gây sức ép với Canberra. Úc là nước kêu gọi một cuộc điều tra quốc tế về nguồn gốc của đại dịch virus Trung Cộng, và cũng là quốc gia quyết định chặn Huawei khỏi việc phát triển mạng 5G của Úc.

Nhập cảng than Úc của Trung Quốc đã giảm mạnh, dữ liệu theo dõi tàu và cảng của Refinitiv cho thấy chỉ có 687 ngàn tấn than được dỡ hàng vào tháng 12/2020, giảm so với mức đỉnh điểm hồi tháng 06/2020 là 9.46 triệu tấn.

Tuy nhiên, dữ liệu cũng cho thấy xuất cảng tổng thể của Úc không thực sự bị ảnh hưởng, với lô hàng tháng 12/2020 đạt 33.82 triệu tấn, tháng 12 trở thành tháng tốt nhất của Úc trong năm 2020.

Trong khi đợt rét đậm trên khắp Bắc Á làm tăng nhu cầu về than của Nhật Bản, Nam Hàn, và Đài Loan, thì có vẻ như Úc cũng đã vận chuyển nhiều than hơn cho các khách hàng trong khu vực như Ấn Độ, Việt Nam, và Thái Lan. 

Không chỉ dừng lại ở câu chuyện về khối lượng, giá cả đang có lợi cho Úc và bất lợi cho Trung Quốc.

Theo dữ liệu từ Cục Thống kê Úc, trong tháng 12/2020, xuất cảng than của Úc đạt 3.7 tỷ AUD (tương đương 2.87 tỷ USD), mức cao nhất kể từ tháng 05/2020.

Hôm 22/01, theo chỉ số giá than hàng tuần Newcastle được đánh giá bởi cơ quan báo cáo giá hàng hóa Argus, giá than nhiệt tiêu chuẩn của Úc kết thúc ở mức 87.52 USD/tấn. Con số đó tăng 89% so với mức thấp nhất của năm 2020 là 46.37 USD, đạt được hồi tháng 9/2020, tại thời điểm khi lo ngại của thị trường về tác động của lệnh cấm nhập cảng của Trung Quốc lên cao nhất.

Giá than nhập cảng qua đường biển tăng đã khiến việc mua than nhập cảng của Trung Quốc trở nên đắt đỏ hơn. Ngược lại, điều đó cũng khiến giá than nội địa tại Trung Quốc tiếp tục tăng vì thiếu sự cạnh tranh của các nhà sản xuất nước ngoài.  

Hôm 26/01, giá than nhiệt tại thành phố cảng Tần Hoàng Đảo đã giảm trong những ngày gần đây, kết thúc ở mức 873 nhân dân tệ/tấn (tương đương 135.14 USD/tấn), giảm từ một mức cao gần đây là 1,038 nhân dân tệ (NDT).

Nhưng ngay cả với mức giảm gần đây, mức giá của Trung Quốc vẫn cao hơn khoảng 87% so với mức thấp nhất năm 2020 là 467 NDT/tấn hồi tháng 5/2020 – cao hơn nhiều so với mức 520–570 NDT được các nhà chức trách ưa thích vì nó bảo đảm các mỏ than vẫn có lãi nhưng chi phí nhiên liệu cho các tiện ích không quá cao. 

Quặng sắt và quặng đồng

Không chỉ đối với than đá mà dường như Úc còn có thể làm nhiều hơn trong tranh chấp thương mại: xuất cảng ngũ cốc của nước này đã tăng lên 1.19 tỷ AUD trong tháng 12/2020, đạt mức kỷ lục cao nhất và gần gấp ba lần giá trị xuất cảng trong tháng 11/2020.

Trung Quốc đã áp thuế 80.5% đối với nhập cảng lúa mạch của Úc hồi tháng 05/2020, làm sụp đổ mối giao thương giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, trong khi nông dân trồng lúa mạch Úc ban đầu bị ảnh hưởng nặng nề, họ đã thành công trong việc chuyển sang các thị trường khác hoặc trồng các loại cây khác.

Trung Quốc cũng áp đặt lệnh cấm nhập cảng không chính thức đối với quặng đồng và tinh quặng đồng từ Úc, nước từng là nhà cung cấp lớn thứ năm của Trung Quốc.

Tuy nhiên, tình trạng thiếu hụt toàn cầu về sản lượng khai thác quặng đồng có nghĩa là Trung Quốc đang bị buộc phải trả nhiều hơn cho nguồn cung. Đồng thời, các nhà máy luyện kim của Trung Quốc phải trả ít hơn cho chi phí thực hiện và tinh chế, vì họ phải vật lộn để tìm nguồn nguyên liệu.

Một lần nữa, điều xảy ra là do Trung Quốc đã tự hất mình ra khỏi nguồn cung vào thời điểm toàn cầu thiếu hụt, tự áp đặt chi phí lên bản thân mà không gây ra được hình phạt nào đối với các công ty khai thác đồng ở Úc – những công ty có khả năng dễ dàng chuyển sang bán cho những người mua khác. 

Trung Quốc không áp đặt bất kỳ hạn chế nào đối với mặt hàng quan trọng nhất mà nước này mua từ Úc, cụ thể là quặng sắt. Nhưng Trung Quốc đang phải trả giá đắt khi mua nguyên liệu sản xuất thép do vấn đề nguồn cung ở Brazil, nước xuất cảng lớn thứ hai sau Úc. 

Theo số liệu thống kê chính thức, xuất cảng quặng kim loại của Úc, bao gồm quặng sắt và đồng, đã tăng lên mức kỷ lục 15.2 tỷ AUD trong tháng 12/2020, tăng 22.6% so với tháng 11/2020.

Nhìn chung, xuất cảng của Úc sang Trung Quốc là 13.34 tỷ AUD trong tháng 12/2020, cao nhất kể từ tháng 06/2020, phản ánh nhu cầu mạnh mẽ của quốc gia này đối với quặng sắt, khí đốt tự nhiên hóa lỏng, và một số mặt hàng nông nghiệp.

Kể từ khi Trung Quốc bắt đầu các hành động thương mại chống lại Úc, các con số có lợi dường như đang nghiêng hẳn về cho Canberra.

Clyde Russell
Lê Trường biên dịch