Các quan chức Hoa Kỳ đã nhiều lần nhấn mạnh rằng mối đe dọa đánh cắp tài sản trí tuệ (IP) từ Trung Quốc cộng sản là một trong những vấn đề thương mại quan trọng nhất mà Hoa Kỳ phải đối mặt.

Tuy nhiên, ông Evan Anderson, Giám đốc Điều hành của INVNT/IP – một sáng kiến ​​Dịch vụ Tin tức Chiến lược, cho biết gốc rễ của tình trạng này nằm ở một vấn đề lớn hơn hiếm khi được thảo luận công khai.

Ông Anderson nói với The Epoch Times: “Vấn đề không được thảo luận nhiều nhất này dẫn đến một bài toán nan giải hơn mà mọi người vờ như không tồn tại là – theo luật pháp Trung Quốc – các công ty không thể từ chối làm việc cho Trung Cộng.”

Ông nói, chính nhờ những luật này mà chính quyền Trung Quốc có thể huy động toàn xã hội trong nỗ lực đánh cắp công nghệ và sở hữu trí tuệ ngoại quốc.

Ông Anderson, tác giả của cuốn sách tóm tắt năm 2016 có nhan đề “Theft Nation” (Quốc gia Kẻ cắp) được giới thiệu trong phóng sự điều tra có lượng người xem nhiều nhất của chương trình “60 Minutes”, nói rằng “5 năm trước, mọi người không hoàn toàn tin rằng tình trạng đánh cắp IP thực sự tệ như nó vốn như vậy.”

“Ngày nay, tình trạng này không được cải thiện theo bất kỳ cách thức có ý nghĩa nào.”

Phó Bộ trưởng Tư pháp Jeffery A. Rosen nói về các cáo buộc và các vụ bắt giữ liên quan đến chiến dịch xâm nhập máy tính của một nhóm có quan hệ đến chính phủ Trung Quốc có tên “APT 41” tại Bộ Tư pháp ở Hoa Thịnh Đốn, vào ngày 16/9/2020. (Ảnh: Tasos Katopodis/AFP)

Tuân thủ cả trong lẫn ngoài nước 

Theo ông Anderson, một trong những lý do bị bỏ qua nhiều nhất là Luật Tình báo Quốc gia của Trung Quốc được ban hành năm 2017 là cho việc Trung Cộng tiếp tục đánh cắp IP. Ngôn từ của luật này thể hiện các luật lệ và quy định mang tính ảnh hưởng sâu rộng liên quan đến an ninh quốc gia, không gian mạng, và việc thực thi pháp luật dưới sự chỉ thị của ông Tập Cận Bình.

Ông Anderson nói: “Trên thực tế các luật an ninh quốc gia được thông qua ở Trung Quốc, bằng văn bản, có nghĩa là bất kỳ công dân Trung Quốc nào, hoặc bất kỳ ai là người gốc Hoa ở ngoại quốc, đều phải tuân theo chính phủ của họ theo đúng nghĩa đen.”

Ông cho rằng theo cách những luật lệ này được viết, “các công dân Trung Quốc làm việc ở hải ngoại không thể làm gì khác nếu [Trung Cộng] yêu cầu họ đánh cắp IP.” Ông nói thêm rằng ép buộc là một chiến thuật quan trọng để buộc người khác thực hiện một hành động như vậy, vì tính mạng của cá nhân hoặc tính mạng của các thành viên trong gia đình của người đó có thể bị đe dọa.

“Điều Bảy chỉ ra rằng không công dân hoặc tổ chức nào có thể né tránh việc giúp đỡ MSS [Bộ An ninh Quốc gia] theo bất cứ cách nào cơ quan này muốn, [và] Điều Mười cho phép [điều khoản] đó áp dụng cho các  lãnh thổ ở ngoại quốc, vì vậy việc công dân hoặc tổ chức nào ở đâu trên thế giới thì không quan trọng, họ vẫn phải làm những gì họ được yêu cầu.”

Ông cho biết thêm, “Những luật lệ này viết ra thành văn bản điều mà mọi người đều biết là đã thành sự thực rồi, về căn bản quy định rằng không một cá nhân hoặc công ty nào có thể nói không với Trung Cộng – và đó là một điều tệ hại vì Trung Cộng đang sử dụng luật này để lấy được quyền truy cập vào dữ liệu mà họ muốn trên khắp thế giới.”

Các tác nhân trộm cắp của MSS 

Ông Anderson cũng cho hay người bình thường không nhận ra rằng một số quốc gia có “các chương trình mạnh mẽ” nhằm mục đích đánh cắp tài sản trí tuệ.

Ông nói: “Bỏ xa các nước khác, Trung Quốc có chương trình lớn nhất và mạnh mẽ nhất được thiết kế riêng để đánh cắp IP. Họ chọn đánh cắp hơn là sáng tạo đổi mới.”

Ông Anderson cho biết thêm, “Ví dụ, chỉ với ít tiền, thời gian, hay nỗ lực, ai đó có thể xâm nhập vào hệ thống máy điện toán của một công ty và đánh cắp mọi thứ công ty ấy biết về cách tạo ra các thiết bị y tế tốt nhất.”

Ông nói rằng khi lấy được dù là ý tưởng từ một email hay một thiết kế thực sự, Trung Cộng có thể sử dụng loại thông tin này để tạo ra một “công ty hoặc sản phẩm nhái”.

Các sản phẩm này sau đó sẽ được bán trên thị trường toàn cầu.

Ông Anderson cho hay, “Khi ai đó mua sản phẩm từ các công ty tham gia vào loại hoạt động này, nói một cách thực chất, tiền của họ sẽ đi vào két sắt của Trung Cộng.”

Ông Anderson nói rằng một chiến thuật được Trung Cộng khai triển là họ thường xâm nhập vào các email để xem các hợp đồng được thương lượng như thế nào. Theo quan điểm của ông, “cách một hợp đồng được thương lượng cũng được xem là tài sản trí tuệ giống như một bản thiết kế.”

Một chiến thuật khác được sử dụng liên quan đến các mối đe dọa mạng đến từ bên trong nội bộ một công ty.

Ông nói: “Có rất nhiều mối đe dọa nội bộ trong các công ty từ những người đã bị chính quyền PRC [Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa] và Bộ An ninh Quốc gia thỏa hiệp, và họ đang đánh cắp từ chính các công ty mà họ đang làm việc.” 

Theo ông Anderson, nhiều hoạt động trong số này được “lên kế hoạch cẩn mật” và được điều phối bởi cái mà ông gọi là “các tác nhân trộm cắp IP làm việc cho MSS.” Do đó, những kẻ xâm nhập này được đào tạo để đánh cắp IP khi đang làm việc hợp pháp cho một công ty được chỉ định.

Những thiệt hại về kinh tế

Các chiến thuật mà Trung Cộng sử dụng để đánh cắp IP từ Hoa Kỳ đã được các quan chức chấp pháp và tình báo cao cấp của Hoa Kỳ công nhận là một vấn đề nan giải.

Năm 2020, Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Christopher Wray đã mô tả quy mô đánh cắp công nghệ và các bí mật thương mại của nhà cầm quyền này là “lớn đến mức nó đại diện cho một trong những vụ chuyển giao tài sản lớn nhất trong lịch sử nhân loại.”

Theo một báo cáo năm 2017 của Ủy ban Sở hữu Trí tuệ do Cục Nghiên cứu Á Châu Quốc gia công bố, tổn thất hàng năm đến từ hoạt động trộm cắp tài sản trí tuệ đối với nền kinh tế Hoa Kỳ có thể lên tới 600 tỷ USD.

Và Trung Quốc là nước vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đứng đầu thế giới, chịu trách nhiệm cho từ 50% đến 80% tổng số thất thoát do trộm cắp tài sản trí tuệ, theo ước tính của Ủy ban Sở hữu Trí tuệ.

Theo Bộ Tư pháp, khoảng 80% các vụ truy tố gián điệp kinh tế có liên can đến Trung Quốc.

Đẩy lùi từng bước

Theo ông Anderson, cần phải có thêm áp lực lên Trung Cộng để ngăn chặn hành vi trộm cắp tài sản tuệ đồng thời khuyến khích sự sáng tạo và trân trọng giá trị sinh mệnh con người. “Cách duy nhất mà chúng ta sẽ thực sự xoay chuyển tình hình về vấn đề này là gây ra nỗi đau về mặt kinh tế, có nghĩa là chúng ta phải ngừng làm ăn với những người này.”

Ông Simpson cho biết Trung Cộng sẽ phải đối mặt với “những hình phạt kinh tế khắc nghiệt nhất” cho hành vi đánh cắp tài sản trí tuệ.

Vị tác giả này, một cựu chuyên gia kinh tế và giám định ngân sách của Văn phòng Quản lý và Ngân sách Tòa Bạch Ốc, xem việc tẩy chay hàng hóa Trung Quốc về mặt lý thuyết là một ý tưởng hay, nhưng lại là một việc khó thực hiện trên thực tế. Ông lưu ý rằng các kiện hàng từ Trung Quốc trước đây từng được xác định rõ ràng là các sản phẩm có xuất xứ Trung Quốc, nhưng ngày nay điều đó không còn đúng nữa.

Ông Simpson cho biết, “Đáng tiếc là hầu hết mọi người không biết những sản phẩm nào là do Trung Quốc sản xuất, hoặc những sản phẩm nào có thể được lắp ráp tại Hoa Kỳ nhưng vẫn chứa các thành phần của Trung Quốc.” Hơn nữa, ông nói, người tiêu dùng không thể xác định sản phẩm nào được phát triển bằng cách sử dụng “tài sản trí tuệ bị đánh cắp”.

Ông cho biết nếu không ngăn chặn sự trộm cắp của nhà cầm quyền này, thì toàn bộ xã hội nhân loại sẽ bị thiệt thòi.

“Thế giới sẽ chứng kiến ​​ngày càng nhiều công ty kém sáng tạo hơn đẩy những công ty từng là nhà cải tiến ra khỏi lĩnh vực kinh doanh – và ở một mức độ nào đó khả năng phát triển của con người sẽ bị mất đi trong xã hội vì điều này.”

Nhưng ông Anderson vẫn nuôi hy vọng rằng tình thế sẽ thay đổi.

Mặc dù sự thay đổi này khó có khả năng xảy ra trong vòng 5 đến 10 năm tới, nhưng ông Anderson dự đoán rằng “sẽ có một sự khác biệt lớn trong các quan điểm toàn cầu về các hoạt động xấu xa của Đảng Cộng sản này, và những quan điểm đó sẽ tạo ra những thay đổi đối với cách thức làm ăn với Trung Quốc.”

Ông J.M. Phelps là một tác gia và nhà nghiên cứu về các mối đe dọa từ chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan và Trung Quốc.

Minh Ngọc biên dịch