Trong bối cảnh hiện nay, nếu quý vị muốn bảo vệ khoản tiết kiệm của mình, vàng và bạc là những tài sản quan trọng cần sở hữu, đặc biệt là tài sản vật chất, không phải là công cụ tài chính. Cổ phần công ty chỉ giúp ích khi chính sách tiền tệ tiếp tục tạo ra lạm phát tài sản, nhưng điều đó có thể ngừng đột ngột khi tăng trưởng cung tiền trùng với tăng trưởng GDP danh nghĩa. Trái phiếu chính phủ không phải là một giải pháp vì cả giá và lợi tức đều khiến chúng trở thành tài sản đắt nhất. Do đó, vàng, bạc, tiền mã hóa và trái phiếu bảo hiểm lạm phát có thể là những cách để bảo vệ giá trị tài sản khỏi sự suy giảm giá trị tiền tệ.

Mua sắm hàng tạp hóa trong bối cảnh đại dịch ở Los Angeles, California, hôm 19/3/2020. (Ảnh: Mario Tama/Getty Images)

Chúng ta hãy cùng xem xét một số khía cạnh của chính sách tiền tệ đang được áp dụng hiện nay để cân nhắc và đưa ra lựa chọn phù hợp cho việc bảo vệ tài sản của quý vị.

Việc liên tục tài trợ cho các khoản thâm hụt tài chính ở các quốc gia kéo dài vô tận tình trạng mất cân bằng của bảng cân đối kế toán. Điều này không những không giúp tăng trưởng mạnh hơn, mà còn khiến lạm phát tăng cao hơn.

Chính sách tiền tệ đã và đang siêu mở rộng trong hơn 10 năm qua, kể cả trong khủng hoảng, phục hồi, tăng trưởng và ổn định. Trên thực tế, ngân hàng trung ương trở thành con tin của các quốc gia, nơi không giảm sự mất cân bằng bảng cân đối mà còn cố gắng duy trì chúng vì chi phí nợ thấp và được ngân hàng trung ương “hỗ trợ”.

Không phải ngẫu nhiên mà động lực cải cách đã dừng lại kể từ năm 2009. Nó hoàn toàn trùng khớp với giai đoạn mở rộng bảng cân đối kế toán không bao giờ kết thúc.

Lãi suất thấp và thanh khoản cao chưa bao giờ là động cơ để giảm sự mất cân đối, mà là động cơ rõ ràng để tăng nợ.

Khi đã bắt đầu, chính sách tiền tệ mở rộng sẽ không thể dừng lại. Có chủ ngân hàng trung ương nào tin rằng các tiểu bang có thâm hụt cân đối lớn hơn 4%/năm sẽ loại bỏ được điều này trong lúc lãi suất vay âm và thanh khoản được bơm thêm không?

Lời bào chữa tồi tệ nhất là “không có lạm phát”.

Không phải ngẫu nhiên mà khu vực đồng euro đã có ​​các cuộc biểu tình lớn chống lại sự gia tăng chi phí sinh hoạt trong khi chúng ta đọc được rằng “không có lạm phát”. Nhưng ít nhất, điều này là thiếu thận trọng khi nói rằng không có lạm phát nếu không tính đến việc gia tăng hàng hóa và dịch vụ không thể tái tạo (tiền thuê nhà, thực phẩm tươi sống, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, v.v.) và giá các tài sản tài chính tăng vọt nhờ chính sách này.

Lợi suất âm trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của các nền kinh tế mất khả năng thanh toán là một phần của lạm phát. Theo một nghiên cứu năm 2020 của Bloomberg Economics, việc tăng giá đối với hàng hóa và dịch vụ không thể tái tạo, trong nhiều trường hợp cao gấp 3 lần tỷ lệ lạm phát chính thức. Như một nghiên cứu năm 2020 của Bloomberg Economics cho thấy, đặc biệt đáng lo ngại khi chính sách tiền tệ khuyến khích người dân tiêu xài trở nên không hiệu quả và kéo dài tình trạng thừa khả năng sản xuất. Điều này có nghĩa là tiền lương thực tế sẽ thấp hơn trong tương lai. Ông Bjorn van Roye và ông Tom Orlik tại Bloomberg Economics kết luận: Không chỉ lạm phát thực tế cao hơn chỉ số giá tiêu dùng chính thức (CPI) mà còn cao hơn nhiều đối với những công dân nghèo nhất.

Một nghiên cứu gần đây của Alberto Cavallo thuộc Trường Kinh doanh Harvard và Bloomberg Economics cảnh báo về sự khác biệt giữa lạm phát thực tế mà những gì người tiêu dùng phải gánh chịu, đặc biệt là những người nghèo nhất, và chỉ số CPI (Consumer Price Index, chỉ số giá tiêu dùng) được công bố.

Bây giờ nó không chỉ là vấn đề của nghiên cứu chi tiết. Lạm phát đã tăng lên mức cao nhất trong 5 năm, và con số lạm phát ở Đức và Hoa Kỳ trong tháng 01/2021 đặc biệt đáng lo ngại vì hai lý do: tăng nhanh hơn so với ước tính của các ngân hàng trung ương và chính phủ, và nó chỉ được giữ ở mức thấp bởi một thành phần là giá năng lượng. Tuy nhiên, theo Bloomberg, nhiều khả năng giá năng lượng sẽ tăng trong những tháng tiếp theo sau khi giá dầu phục hồi 22% trong hai tháng đầu năm 2021 và hầu hết các mặt hàng đều tăng từ 3% đến 7% trong cùng thời kỳ.

Trên thực tế, nếu chúng ta phân tích chi phí sinh hoạt với hàng hóa và dịch vụ mà chúng ta thực sự dùng thường xuyên, thì cuộc khủng hoảng chưa từng có như năm 2020 khiến chi phí của các tầng lớp nghèo nhất tăng gần gấp ba lần chỉ số CPI công bố. 

Chỉ số giá bán buôn của Đức đã tăng 2.1% trong tháng 01/2021 so với 0.6% trong tháng trước (12/2020). Đây là mức cao nhất trong 10 năm. Thông tin chi tiết thậm chí còn đáng lo ngại hơn: giá thịt (+3.5%), trái cây (+3.2%) và rau (+3.1%) đang tăng ở mức chưa từng thấy trong một thập kỷ, và điều này cho thấy giá các mặt hàng này không giảm đáng kể vào năm 2020. Giá thuê ròng tăng 1.3%, dịch vụ tiện ích xã hội tăng 6%, và bảo dưỡng và sửa chữa phương tiện giao thông 3.4%.

Bây giờ hãy nhớ rằng chỉ số giá bán buôn của Đức được giữ ở mức thấp do thành phần năng lượng giảm hơn 3%. Tuy nhiên, chưa có công dân Đức nào chứng kiến ​​mức giảm 3% sau thuế và phụ phí trong hóa đơn mua điện và xăng dầu của họ.

Ở Hoa Kỳ tình hình cũng tương tự. Lạm phát dự kiến là cao nhất trong bảy năm qua. Tuy nhiên, theo Deutsche Bank, chi phí cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nhà ở đang tăng nhanh hơn lương thực tế và CPI công bố. Trên thực tế, theo Torsten Slok của Deutsche Bank, kể từ năm 2000, những mức giá này đã tăng nhanh hơn từ 2 đến 2.5 lần so với CPI chính thức. 

Nhiều nhà phân tích nhận định rằng sự gia tăng lạm phát này chỉ là tạm thời do tác động căn bản của việc mở cửa trở lại của hầu hết các nền kinh tế phát triển và sự phục hồi nhanh chóng của giá hàng hóa. Điều này hoàn toàn chính xác và chúng ta có thể sẽ thấy lạm phát chính thức chậm lại trong nửa cuối năm 2021. Tuy nhiên, điều này không có khả năng xảy ra với hàng hóa và dịch vụ mà chúng ta thực sự mua và sự gia tăng không thể tái tạo và thiết yếu hàng hóa và dịch vụ sẽ vẫn cao hơn đáng kể so với tiền lương thực tế và chỉ số CPI chính thức.

Áp lực định giá này thậm chí còn tạo ra sự bất bình đẳng hơn nữa, vì nó ảnh hưởng đến phần lớn người nghèo và trở thành gánh nặng thực sự đối với hầu hết các gia đình trung lưu, vốn đã chứng kiến ​​tiền lương giảm nhưng giá hàng hóa và dịch vụ mà họ không thể loại bỏ hoặc thay thế, lại tăng  ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng.  Hơn nữa, người nghèo và tầng lớp trung lưu thấp hơn không được hưởng lợi từ lạm phát giá tài sản do chính sách tiền tệ tạo ra. Cựu chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Ben Bernanke từng nói rằng các ngân hàng trung ương không chịu trách nhiệm về chính sách tài khóa và đây là vấn đề của chính sách tài khóa. Không phải thế. Tăng cung tiền ồ ạt và những hậu quả tiêu cực của nó không thể giải quyết được bằng cách tăng thuế và tăng trợ cấp. Điều này chỉ kéo dài vấn đề và tạo ra một tầng lớp xác sống (zombie) không bao giờ có thể phục hồi sau thời kỳ bùng nổ và phá sản.

Vậy rủi ro lớn nhất là gì? Đó là ngay cả khi lạm phát tăng vọt, các ngân hàng trung ương cũng không thể ngăn bộ máy bơm tiền vì các chính phủ vỡ nợ sẽ rơi vào một cuộc khủng hoảng nợ lớn nếu mức lãi suất tăng chỉ vài phần trăm. Đứng trước sự lựa chọn giúp đỡ người tiêu dùng hay chính phủ, hầu hết các ngân hàng trung ương sẽ chọn phương án thứ hai.

Tiến sĩ Daniel Lacalle, nhà kinh tế trưởng tại quỹ đầu cơ Tressis và là tác giả của các cuốn sách “Tự do hoặc Bình đẳng”, “Thoát khỏi Bẫy Ngân hàng Trung ương” và “Cuộc sống trong Thị trường Tài chính”.

Ý kiến ​​của tác giả trong bài viết này không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.

Minh Khanh biên dịch