Mỗi năm, ngân sách quốc gia chi hàng trăm nghìn tỷ đồng để đầu tư vào các công trình, dự án cơ sở hạ tầng, các chương trình mục tiêu quốc gia để phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có vốn nhà nước cũng đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm vào các dự án sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư này vẫn còn rất kém hiệu quả.

Một công nhân đang làm việc tại khu vực đóng tàu tại Đà Nẵng, ngày 30/8/2016. (Ảnh Linh Pham/ Stringer)

Đầu tư từ ngân sách quốc gia (đầu tư công) của Việt Nam nói chung là không đạt mục tiêu lợi tức, bởi vì hình thức sở hữu nhà nước trên toàn thế giới đều ghi nhận rằng hiệu quả không cao. 

Theo thống kê thực tế đến nay, đã cho thấy các quốc gia đi theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa thường là không thành công về mặt kinh tế – xã hội, năng suất lao động thấp, trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật thấp. 

Nền kinh tế của các quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Bắc Hàn, Cu Ba và hầu hết các quốc gia thuộc nhóm xã hội chủ nghĩa Đông Âu và tách ra từ Liên Xô cũ, vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức, mặc dù đã 30 năm sau khi bức tường Berlin sụp đổ.

Một số nước như Zambia, Mozambic, Zimbabwe, Venezuela, … không phải do đảng cộng sản cầm quyền nhưng lại theo khuynh hướng chủ nghĩa xã hội. Những quốc gia này tiến hành quốc hữu hóa tài sản, thực hiện chế độ công hữu. Hậu quả là đã xảy ra tình trạng nghèo đói, đồng tiền mất giá khiến nền kinh tế xã hội và người dân ở những nước này gặp nhiều khó khăn.

Gần đây kinh tế thế giới cũng ghi nhận không ít những nước từ rất giàu có, nhưng do đi theo mô hình kinh tế này nên đã nhanh chóng trở nên nghèo khó. Ví dụ, năm 1990, Venezuela vẫn còn là một nước giàu ở Nam Mỹ, trữ lượng dầu mỏ của Venezuela là lớn nhất thế giới. Nhưng năm 1999, tổng thống Chavez lên nắm quyền đã đi theo Trung Quốc và Nga. Cả hai nước này cho Venezuela vay hàng tỷ USD khiến Venezuela trở thành con nợ khổng lồ. Hậu quả là chỉ một thời gian ngắn, ngân sách Venezuela cạn kiệt, lạm phát tăng vọt lên 800% trong năm 2016, kinh tế xuống dốc, thiếu năng lượng, thiếu điện, thiếu thực phẩm, …

Quay trở lại với kinh tế Việt Nam, do thiếu vốn đầu tư phát triển nên ngân sách vay nợ lên đến gần 60% GDP. Trong thời gian vừa qua, các doanh nghiệp nhà nước đầu tư theo cách “vung tay quá trán”, lãng phí nguồn lực quý giá, dẫn đến nhiều dự án xây xong bị “trùm mền”.

Câu chuyện 12 đại dự án thua lỗ hàng tỷ USD của Bộ Công thương cũng là bằng chứng cho sự thua lỗ của các doanh nghiệp sở hữu nhà nước. Theo báo cáo của Bộ Công thương, 12 dự án này gồm 4 dự án sản xuất phân bón, 3 dự án sản xuất xăng sinh học, 2 dự án sản xuất thép, 1 dự án sản xuất xơ sợi polyester, 1 dự án sản xuất bột giấy và 1 dự án công nghiệp tàu thủy. Cả 12 dự án này có tổng trị giá tài sản là 2.6 tỷ USD, nhưng bị lỗ đến mức ở thời điểm hiện tại vốn của chủ sở hữu đã bị âm 310 triệu USD, cộng với tổng số nợ còn phải trả 2.7 tỷ USD và hầu hết 12 dự án này đều không hoạt động.

Thiệt hại kinh tế của các dự án trên chưa được xác định đầy đủ. Ngoài việc gây hậu quả về nguồn vốn đầu tư, các dự án đình trệ còn làm méo mó nguồn tài chính, tín dụng, khi hàng loạt ngân hàng phải chịu các khoản nợ xấu. Bộ Công thương cho biết đến tháng 5/2020, các ngân hàng, công ty tài chính đang “sa lầy” cho vay gần 1 tỷ USD tại 12 đại dự án trên; ngoài cho vay trực tiếp 12 dự án, các ngân hàng còn cho các chủ đầu tư có liên quan vay 1 tỷ USD nữa và cũng rất khó thu hồi nợ. Hậu quả của 12 đại dự án này không chỉ ảnh hưởng về phương diện tài chính mà còn ảnh hưởng đến lao động việc làm cho hàng chục ngàn người, và đặc biệt là lòng tin của người dân.

Vì sao dự án đầu tư cứ thua lỗ?

Thực tế cho thấy hầu hết các dự án thua lỗ đều là những lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề của sự giảm giá dầu mỏ, từ đó các hàng hóa khác như kim loại, phân bón, hóa chất, … đều giảm theo.

Khi giá dầu mỏ và giá các loại kim loại đang ở đỉnh cao thì các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, nhìn nhận rằng thị trường sẽ tiếp tục tăng, nên khi lập dự án đầu tư đều ước tính giá bán của thành phẩm rất lạc quan. Khi các dự án đầu tư  hoàn thành và bắt đầu sản xuất thì giá dầu mỏ, giá kim loại, giá phân bón thế giới … giảm mạnh đến gần 50%, khiến giá thành thành phẩm làm ra dựa theo ước tính trước đây trở nên lỗi thời và không đủ khả năng cạnh tranh, khiến dự án bị thua lỗ là điều không tránh khỏi.

Mặt khác, hầu hết các dự án thua lỗ này đều dùng công nghệ Trung Quốc, nên hiệu quả sản xuất không cao, khó tiêu thụ do chất lượng không bảo đảm. Ngoài ra, còn phải kể đến những yếu tố khác đã được cơ quan thanh tra chính phủ chỉ ra như tham nhũng, mua máy móc cũ giá cao, khai khống, … cũng góp phần làm giá thành sản phẩm tăng cao.

Một số dự án đầu tư công khác lại kéo dài hơn 10 năm do đủ mọi lý do như giải ngân chậm, thiết bị công nghệ không nhập cảng về theo như dự án đã đệ trình phê chuẩn … khiến hiệu quả đầu tư vừa thấp, vừa làm chi phí lãi vay tăng cao khiến càng sản xuất thì càng lỗ. 

Việc thiếu minh bạch, mập mờ về trách nhiệm trong quản lý thì vẫn chỉ có người dân lãnh hậu quả thiệt hại từ việc đầu tư công không hiệu quả. Chỉ khi nào minh bạch hóa thông tin trong hoạt động đầu tư công thì mới tạo ra môi trường lành mạnh cho các nhà thầu, các nhà tư vấn có uy tín tham gia, khi đó mới có thể nâng cao chất lượng đầu tư công.

Trong gia đình, các bậc cha mẹ sẽ ưu tiên dành tiền cho con cái đi học để nâng cao tri thức, còn đối với một quốc gia muốn phát triển thì cần dành chi tiêu từ ngân sách đáng kể cho giáo dục, coi việc đào tạo và giáo dục là quốc sách. Như đã đề cập tại Phần 1 (tuần báo 27/11-03/12), việc chi tiêu sai từ tiền ngân sách đến 5%, tương đương với số tiền dành cho giáo dục của quốc gia, quả là điều bất hợp lý đối với một đất nước còn nghèo. 

Khi ngân sách đang dần cạn kiệt, thu không đủ bù chi, gánh nặng nợ công ngày càng trầm trọng, hy vọng những người sử dụng ngân khố quốc gia thật có tâm thì quốc gia mới vượt qua khó khăn và phát triển được.

Quan điểm được trình bày trong bài viết này là ý kiến của tác giả và không nhất thiết đại diện cho quan điểm của Epoch Times.

Hy Vọng