TRƯƠNG HÁN SIÊU  soạn (nguyên-văn bằng chữ Hán)

NGUYỄN HỮU-TIẾN dịch ra quốc văn (a

DƯƠNG QUẢNG-HÀM dẫn-giải và chú-thích

Tiểu dẫn – Sông Bạch-Đằng là một nhánh của sông Thái-bình  địa-giới  hai tỉnh Kiến-an và Quảng-yên ngày nay và đổ ra cửa Nam-triệu. Sông rộng và sâu, bởi thế tàu biển hiện nay cũng phải vào cửa Nam-triệu rồi mới do lạch Định-vũ mà chạy tới bến Hải-phòng ở trên bờ sông cửa cấm. Xưa kia binh thuyền của Tàu kéo sang đánh nước ta thường do sông ấy mà tiến vào trong đất, nên có nhiều trận thuỷ chiến đã xảy ra trên mặt sông ấy. Trong các trận đó, đáng ghi nhớ nhất là trận vua Ngô Quyền đánh phá quân Nam-Hán trong năm 938 và trận Trần-quốc-Tuấn đánh tan quân Mông – Cổ trong năm 1288.

Trương-Hán-Siêu (? – 1354), một bậc danh nho thời Trần, ở cách trận  Trần Nguyên giao-chiến không bao lâu, nên khi ra chơi sông Bạch-Đằng, còn được trông thấy dấu vết cuộc binh đao, nhân cảm xúc mà làm ra bài phú này.

Bài phú chia làm năm phần: thoạt tiên tác giả nói về cái tính thích ngao-du sơn-thuỷ của mình để mở bài (vẫn lung), rồi tả phong cảnh sông Bạch-Đằng cùng dấu vết cuộc chiến tranh khiến cho tác giả nhớ đến các bậc anh hùng thời xưa (vần biện nguyên), kế đó tác giả nói tới việc vua Ngô phá quân Lưu và việc nhà Trần đánh giặc Nguyên và tả cuộc chiến đấu của hai bên cùng sự thất bại của quân địch (ba vần thích-thực); sau tác-giả bình-luận cuộc thắng trận, cho rằng cái kết-quả ấy chính do tài chí của Hưng-đạo  đại-vương, chứ không phải do sự hiểm trở của núi sông (vần nghị-luận). Đoạn, tác-giả kết lại bằng một bài ca ngợi khen công đức của vua tôi nhà Trần đã giữ vững được non sông đất nước.

Lời văn bài này, viết theo lối phú “lưu thuỷ” vừa lưu-loát, vừa mạnh-mẽ, nhiều đoạn có giọng hùng-hồn, cảm-kích, thật là một áng văn hay trong nền Hán-văn của ta xưa.

Khách có kẻ: chèo bể bơi giăng, buồm mây giông gió. Sớm ngọn Tương (1) kia, chiều hang Vũ (2) nọ. Vùng-vẫy Giang-Hồ, tiêu giao Ngô, Sở (3). Đi cho đến đây, đi cho biết đó. Chằm Vân-mộng (4) chứa ở trong kho tư-tưởng, đã biết bao nhiêu ; mà cái chí-khí tứ phương, vẫn còn hăm-hở.

Mới học thói Tử-trường (5), bốn bể ngao-du. Qua cửa Đại-than (6), sang bến Đông-triều (7) ; đến sông Bạch-Đằng, đủng-đỉnh phiếm chu. Trăng xóa, sóng kềnh (8) muôn dặm, xanh rì rặng ác (9) một màu ; nước trời lộn sắc, phong cảnh vừa thu; ngàn lau quạnh-cõi, bến lách đìu hiu. Giáo gậy đầy sông, cốt khô đầy gò. Ngậm-ngùi đứng lặng, ngắm cuộc phù-du. Thương kẻ anh-hùng đâu vắng tá, mà đây dấu vết vẫn còn lưu !

Kìa kìa bên sông phụ-lão người đâu; lượng trong bụng ta, chừng có sở-cầu (10). Hoặc gậy chống trước, hoặc thuyền bơi sau, vái ta mà thưa rằng: Đây là chỗ chiến-địa của vua Trần bắt giặc Nguyên, và là nơi cố-châu của vua Ngô phá quân Lưu (11) đấy.

Đương khi: muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ. Gươm tuốt sáng loè, cờ bay đỏ khe !. Tướng Bắc, quân Nam; đôi bên đối luỹ. Đã nổi gió mà bay mây, lại kinh thiên mà động địa. Kìa Nam-Hán đọ mưu sâu, nọ Hồ-Nguyên so sức khỏe. Nó bảo rằng: phen này đạp đổ cõi Nam, tưởng chừng cũng dễ !

May sao: trời giúp quân ta, mây tan trận gió. Khác nào như quân Tào-Tháo bị vỡ ở sông Xích-Bích (12) khi xưa, giặc Phù Kiên bị tan ở bến Hợp- phì (13) thủa nọ. Ấy cái nhục tày trời của họ, há những một thời ; mà cái công tái-tạo của ta, lưu danh thiên cổ.

Tuy vậy, từ thuở có trời có đất, vẫn có giang san. Trời đặt ra nơi hiểm-trở, người tính lấy cuộc tồn-an. Hội nào bằng hội Mạnh-tân (15), như vương sư họ Lã (16), trận nào bằng trận Duy-thuỷ (17) như quốc-sĩ họ Hàn (18). Kìa trận Bạch-Đằng này mà đại-thắng, bởi chung đại-vương (19) coi thế giặc nhàn. (20) Tiếng thơm còn mãi, bia miệng bao mòn. Nhớ ai sa giọt lệ, hổ mình với nước non.

Rồi vừa đi vừa hát rằng :

Sông Đằng một dải dài ghê !

Luồng to, sóng nhớn dồn về bể Đông.

Trời Nam sinh kẻ anh-hùng,

Lăm kềnh yên lặng, non sông vững vàng.

Khách lại nối mà hát rằng :

Vua Trần hai (21) vị thánh-quân,

Sông kia còn dấu tẩy trần giáp binh (22) ;

Nghìn xưa ngẫm cuộc thăng bình,

Tại đâu đất hiếm, bởi mình đức cao.

DƯƠNG QUẢNG HÀM

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

Chú – thích :

  1. Nam-phong tạp-chí quyển thứ XIV trang 470-472.
  1. Lương : tên con sông chảy qua tỉnh Hồ-Nam rồi đổ vào hồ Động-đình.
  2.  Hạng Vũ : dịch hai chữ “Vũ huyệt”; tên một cái hang ở núi Côi-kê  (huyện Thiệu-hưng, tỉnh Chiết-giang). Sách Thuỷ-kinh chú chép rằng : Trên núi Cối-kê, có miếu vua Vũ. Xưa vua Đại-Vũ đi tuần phía đông, mất ở Cối-kê, nhân chôn ở đấy. Phía đông trái núi có cái giếng sâu không trông thấy đáy, tức là Vũ huyệt.
  3. Ngô, sở : tên hai nước chư-hầu về đời Xuân-thu, đều ở trên triền sông Dương-tử-giang : nước Ngô ở phía đông, nước Sở phía tây.
  4. Vân-mộng : tên một cái chằm ở phía Nam huyện An-lục tỉnh Hồ-bắc.
  5. Tử-trường : tên hiệu của Tư-mã-Thiên, một sử-gia có tiếng ở đời Hán, từng đi du lịch nhiều nơi. Các tên sông, tên đất nói ở đoạn trên là những nơi Tử-trường từng đến chơi cả.
  6. Đại-than : tên xã thuộc tổng Vạn-ty, huyện Gia-bình, tỉnh Bắc ninh.
  7. Đông-Triều : tên huyện thuộc tỉnh Hải-dương.
  8. Sóng kềnh : sóng lớn như cá kềnh.
  9. Rặng ác (ác: con quạ) : rặng núi trùng-trùng điệp-điệp trông xa như đàn quạ nối đuôi nhau.
  10. Sở cầu : điều mình muốn tìm muốn biết.
  11. Vua Ngô phá quân Lưu : Vua Ngô là Ngô Quyền; quân Lưu là quân của Hoằng-Thao, (con Lưu-Cung, vua nước Nam-Hán) sang đánh nước ta năm 938.
  12. Quân Tào-Tháo bị vỡ ở sông Xích-bích : Tào-tháo là vua nước Ngụy về đời Tam-quốc, đánh nhau với Lưu-Bị, vua nước Thục. Tháo bị tướng nước Ngô là Chu-du đánh thua ở Xích-Bích, tên một trái núi ở trên bờ sông Dương-tử-giang ở phía đông bắc huyện Gia-ngư tỉnh Hồ-bắc.
  13. Giặc Phù kiên bị tan ở bến Hợp Phì : Phù Kiên là vua nước Tiền-Tần đem quân đánh nhà Tấn, bị bọn Tạ Huyền đánh thua to ở Phì-thuỷ, một con sông phát-nguyên tự huyện Hợp-phì (nay thuộc đạo An-Khánh, tỉnh An-huy).
  14. Tái-tạo : gây dựng lần nữa ; ý nói đánh giặc ngoài để khôi phục giang-san.
  15. Mạnh-tân : tên bến ở phía nam huyện Mạnh, tỉnh Hà-nam, nay gọi là bến Hà-Dương. Xưa Vũ-vương nhà Chu khi đánh vua Trụ, họp chư-hầu ở đấy.
  16. Họ Lã : tức là Lã thượng, hiệu là Thái-công-vọng làm Vương-sư giúp Vũ – vương đánh vua Trụ.
  17. Duy-thuỷ : tên một con sông ở tỉnh Sơn-đông.
  18. Họ Hàn : tức là Hàn Tín, một bậc danh-tướng đã có công giúp vua Hán Cao-Tổ đánh Hạng Vũ. Ông đánh được tướng nước Sở là Long Thả ở Duy-thuỷ.
  19. Đại-vương : tước của Trần-quốc-Tuấn. Vua nhà Trần phong cho ông là “Hưng – đạo đại – vương”.
  20. Coi thế giặc nhàn : năm 1287 quân nhà Nguyên, lần trước bị thua, lại kéo sang lần thứ nhì để đánh báo thù, vua Trần-Nhân-Tôn hỏi Trần Quốc-Tuấn dùng kế gì để chống lại quân giặc; ông thưa : “Thế giặc năm nay nhàn”, ý nói dễ đánh. Xem câu trả lời ấy, đủ biết ông đã dự-định mưu-lược để đánh thắng quân giặc, nên không lấy làm lo.
  21. Vua Trần hai vị : tức là vua Trần Thái-Tôn (1225 – 1258) và vua Trần Nhân-Tôn (1278-1293).
  22. Tẩy trần giáp binh : rửa sạch bụi áo giáp và binh-khí : ý nói thắng trận.