BÁ-LÝ-HỀ

Lý-Hề người nước ngu tự là Tỉnh-Bá, nhà nghèo-khó, 30 tuổi mới cưới vợ, sinh 1 con giai, ông học tài uyên-bác, song chửa gập thời. Vợ có khuyên chồng đi lập công-danh, nhà còn có một con gà là của cải, đem diết làm thịt, lại thiếu củi phải bẻ cửa và then ra đun, để làm tiệc đưa chồng. Lý-Hề bỏ nhà ra đi, trăm thảm nghìn sầu, qua Tề không ai hỏi tới, 40 tuổi còn đi ăn mày nơi đất Chất, gập được bạn nghèo tri-âm là Kiển-Thúc tìm một việc cho đi chăn châu, để lấy tiền chi-độ. Nhờ được nuôi châu khéo mà được làm gia-thần Vương-Tử-Thoát nước Châu. Sau nhờ bạn là Cung-Tri-Kì tiến lên vua Ngu làm quan Đại-Phu Đến khi sau, lại bị Tấn-Hầu sai đi phò dâu đám cưới qua Tần. Hề than rằng: « Ta ôm tài tế-thế mà không gặp đặng minh-chúa, mà chổ tài với đời, già rồi còn làm khách đưa dâu cho người, làm thân đầy-tớ, khổ biết dường nào ! » Rồi dữa đường bỏ cô dâu mà chốn, qua Tống bị lắm nỗi khó-khăn, qua Sở lại bị nghi là dan-tế, bắt chói, rồi bắt nuôi châu ngựa. Sau Tần-Mục-Công biết là người hiền đón về. Khi xuống xe Tần-Mục-Công thấy Lý-Hề đầu đã bạc phơ, hỏi tuổi thì đã 70 chẵn, Mục-Công than rằng: « Già rồi còn chi. rất đáng tiếc ! » « Lý-Hề nói: « như khiến đi đuổi chim bay, bắt thú dữ, thì tôi già thực, còn như khiến tôi ngồi lo việc nước, thì tôi hãi còn trẻ lắm, xưa Lã-Vọng tuổi đã 80, còn ngồi câu nơi sông Vị, vua Văn-Vương đón về làm Thượng-Phụ, nay tôi về với Chúa-Công đây, so với Lã-Vọng chẳng là còn sớm hơn mười năm sao ? » Mục-Công khen và phong làm Tả-Thừa-Tướng. Lý-Hề lại tiến-cử bạn cũ là Kiển-Thúc phong làm-Hữu-Thừa-Tướng. Tìm được cả vợ con cũ, xum họp một nhà.

BÀ HUYỆN DƯƠNG.

Lý-Khản làm quan huyện Hạng-Thành đời nhà Đường. Một hôm có giặc đến đánh thành, quan huyện toan bỏ chạy. Bà vợ người họ Dương cản chồng lại nói rằng: « Giặc đến cướp thành, phải hết sức dữ thành, dữ không nổi thì chết, đạo làm tôi ăn lộc nước, như thế mới là chung. Nay ông lại chốn là nghĩa làm sao ? Bây giờ cứ mộ quân cho nhiều, khao-thưởng cho hậu, như thế là dữ được, sao lại nhát mà chạy? » Rồi bà bổn thân đi hiểu dụ nhân-dân và coi dữ lương-thảo, hết sức thủ thành thay chồng, Khi dao chiến, chẳng may quan huyện bị mũi tên vào vế, lại toan lảng, bỏ thành chạy lấy một mình. Bà giận quá, cản lại bảo rằng; « Đã chết đâu mà sợ, sao hèn thế, ông không ở đây thì ai chịu liều chết, ví dù có chết nữa cũng là chết vì nước mới là vinh, còn hơn chết ở trên lòng tôi à! » Ông huyện thẹn quá sinh ra cảm-khích, liều đánh, quả-nhiên quân giặc phải lui.

DANH LỢI BẤT NHƯ NHÀN

Vua Tề-Tuyên-Vương nghe tiếng Nhan-Súc là bậc kỳ-sĩ, một hôm ngự xe đến chơi nhà, muốn vời ra cho làm quan. Nhan-Súc từ chối rằng: « Ngọc vốn ở núi, đem mài dũa làm đồ chơi. tuy vẫn là quý-báu, song mà vóc ngọc không còn. Kẻ sĩ sinh ở nơi thôn-dã. ra làm quan, tuy có vinh-hiển, song tinh-thần không được toàn-vẹn. Súc tôi xin ở nhà, lúc đói ăn cơm rau, cũng ngon miệng như ăn cơm thịt, lúc đi cứ khoan-thai bước một, cũng nhẹ-nhàng như lên xe xuống ngựa một đời không tội-lỗi với ai, cũng xướng bằng quan cao chức trọng, tinh-thần lúc nào cũng trong-sạch, chính-đính. ấy là đủ khoan-khoái cho Súc rồi, xin nhà vua lượng xét tha cho » Nói xong Súc bái tạ mà tiễn Tuyên-Vương về.

NGHÈO VÌ ĐÂU ?

Tử-Tang là bậc cao-sĩ rất nghèo đời Xuân-Thu. Một hôm giời mưa, có người bạn là Tử-Dư đem gạo lại cho. Tang đang đánh đàn hình như than khóc, líu-nhíu não-nuột nghe như: Cha ư? mẹ ư? giời ư? người ư? Dư hỏi sao lại đàn thế? Tang đáp: « Tôi nghĩ mãi, không biết từ đâu đến nỗi cùng-cực thế này. Nào phải cha mẹ tôi muốn cho tôi nghèo-khổ đâu? Có phải giời đất bắt riêng một tôi nghèo đâu? giời đất coi ai cũng như ai, không che-chở riêng ai. Hay tại người ư? Tôi muốn tìm cho biết tự đâu mà ra sự cực khổ. » Dư đưa gạo cười mà đáp rằng: chẳng phải tại giời đất, cha mẹ, mà cũng không phải tại người. Ấy là tại mình cả, số mịnh sui ra thế nên phải chịu. Nếu cứ chách mình, mang lấy tài làm chi cho cực, bởi bác giầu về chữ « hiền » rồi, nên phải kém đường danh lợi, nếu bác thế mà lại giầu nữa sang nữa, chả hóa ra Tạo-hóa không công rư, ấy là phép thừa-trừ của ông Tạo đó. Bác nên vui lòng mà nhận lấy cái cực như bác, ấy là kho vàng đạo-đức đó! ».

ÁN-TỬ QUA NƯỚC SỞ.

Án-Tử làm quan Tể-Tướng nước Tề, vâng mệnh vua sang sứ nước Sở. Ông rất có tài húng-biện. Khi tới nước Sở, vua Sở thấy ông người lùn thấp, mới sai làm một cái khải-hoàn-môn kín cả đường để đón, chỉ để một lỗ chòn bé thấp; rồi sai quan rước ông qua cửa đó. Ông nhường các quan đi vào trước, ai ai cũng phải khom lưng mới qua được, các quan đều buồn cười có ý chế-nhạo, chờ ông qua đó thì cười rầm lên mà chế-diễu. Ông biết vậy không vào, vua Sở ở trong hỏi rằng: Lỗ hổng đó Tể-Tướng đi lọt còn thừa mà, sao không vào đi, hay cửa còn to quá sao, mà Tể-Tướng chưa bằng lòng? » Ông đáp: « ấy là lỗ để chui, không phải cửa quan Tể-Tướng đi ». Vua phải phá đi, ông mới vào. Khi ăn tiệc, vua Sở lại ngầm sai bắt một người chói lại dẫn ra trước tiệc. Vua hỏi quân, người đó quê ở đâu và làm sao lại bị bắt như vậy? Quân thưa: « Tên này là người nước Tề, phạm tội ăn cắp ». Vua Sở nhìn vào mặt Án-Tử hỏi rằng: « Sao người nước Tề hay trộm cắp thế nhỉ? » Ông đứng dậy chắp tay tâu rằng: « chúng tôi trộm nghe cây quất mọc ở đất Hoài-Nam thì ngọt, đem dồng ở đất Hoài-Bắc thì chua. Cành lá dống nhau, mà chua ngọt khác nhau, ấy là vì thủy-thổ khác nhau vậy. Dân Tề chúng tôi sinh trưởng ở đất Tề thì ai cũng thực-thà, nay sang Sở ở, lại sinh ra trộm cắp, có lẽ cũng vì thủy thổ khác nhau mà ui ra thế chăng! » Vua Sở cười mà rằng: « Ta nói đùa mà thành bị nhục, thế mới biết kẻ cả không nên nói đùa bao giờ! »

Theo CỔ NHÂN ĐÀM LUẬN