Sau khi bài “Anh hùng và giai nhân” của bạn Tam Gia ra trọn (coi T.T những số 13,14,15), nhiều bạn viết thư về tòa báo tỏ ý muốn đọc cả nguyên văn bài “Ai tư vãn” của Ngọc-hân công chúa.

Vậy, chiều ý các bạn, Tri-Tân xin đăng toàn văn bài vãn ấy và thêm vào chú -giải cho dễ hiểu

T.T

?

Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo

Trước thềm lan, hoa héo ron ron.

Cầu Tiên(1) khói tỏa đỉnh non,

Xe rồng thăm thẳm, bóng loan rầu rầu!.

Nỗi lai lịch dễ hầu than thở,

Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao ?

Sầu sầu, thảm thảm xiết bao…

Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời !.

Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc,

Nghĩa tôn-phù vằng-vặc bóng dương (2).

Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,

Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy.

Trăm ngàn dặm quản chi non nước;

Chữ nghi-gia mừng được phải duyên.

Sang yêu muôn đội ơn trên,

Rỡ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm.

Lượng che chở, vụng lầm nào kể.

Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời.

Dẫu rằng non nước biến dời,

Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là.

Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội,

Khắp tôn-thân cùng đội ơn sang (4).

Miếu đình còn dấu chưng thường (5),

Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh (6).

Nhờ hồng-phúc, đôi cành hòe quế

Đượm hơi dương dây rễ cùng tươi (7).

Non Nam (8) lần chúc tuổi trời,

Dâng câu Thiên Bảo (9), bày lời Hoa Phong (10).

Những ao-ước trập-trùng tuổi hạc,

Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui.

Nào hay sông cạn, bể vùi,

Lòng trời giáo giở, vận người biệt ly !.

Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết,

Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên.

Xiết bao kinh sợ, lo phiền,

Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu.

Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước,

Phương pháp nào đổi được cùng chăng ?

Ngán thay !, máy tạo bất bằng,

Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan !.

Cuộc tụ, tán, bi, hoan kíp bấy,

Kể sum vầy đã mấy năm nay ?

Lênh đênh chút phận bèo mây,

Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu ?

Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối,

Biết cậy ai dập nỗi bi thương ?

Trông mong luống những mơ-màng,

Mơ hồ bằng mộng, bàng-hoàng như say !.

Khi trận gió hoa bay thấp thoáng,

Ngỡ hương trời bảng-lảng còn đâu:

Vội vàng sửa áo lên chầu,

Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng !.

Khi bóng trăng, lá in lấp lánh,

Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi.

Vội vàng dạo bước tới nơi,

Thương ơi, vắng-vẻ giữa trời tuyết sa !

Tưởng phong-thể (11) xót xa đòi đoạn,

Mặt rồng sao cách-gián (12) lâu nay,

Có ai chốn ấy về đây,

Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành ?

Nẻo u-minh (13)khéo chia đôi ngả,

Nghĩ đòi phen, nồng-nã đòi phen.

Kiếp này chưa trọn chữ “duyên”,

Ước xin kiếp khác vẹn nguyền lửa hương.

Nghe trước có đấng vương Thang(14), Võ(15),

Công-nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao;

Mà nay áo vải cờ đào (16),

Giúp dân dựng nước xiết bao công trình !

Nghe rành rành trước vua Nghiêu(17), Thuấn(18),

Công đức dày, ngự vận càng lâu;

Mà nay lượng cả, ơn sâu,

Móc mưa rưới khắp chín châu (19)đượm nhuần.

Công dường ấy, mà nhân dường ấy,

Cõi thọ sao hẹp bấy, hóa-công ?

Rộng cho chuộc được tuổi rồng,

Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi (20).

Buồn thay nhẽ, sương rơi gió lọt,

Cảnh đìu-hiu, thánh thót châu sa !

Tưởng lời di-chúc thiết tha,

Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê !

Buồn thay nhẽ !, xuân về hoa ở (21),

Mối sầu riêng ai gỡ cho xong,

Quyết liều mong vẹn chữ “tòng”,

Trên rường nào ngại giữa dòng nào e !

Con trứng nước thương vì đôi chút,

Chữ “tình thâm” chưa thoát được đi (22),

Vậy nên nấn ná đòi khi,

Hình tuy còn ở, phách thì đã theo;

Theo buổi trước ngự đèo Bồng-đảo (23),

Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân (24),

Theo xa thôi lại theo gần,

Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa.

Đương theo bỗng tiếng gà sực tỉnh,

Đau đớn thay ấy cảnh chiêm-bao !

Mơ-màng thêm nỗi khát khao,

Ngọc-kinh (25) chốn ấy ngày nào tới nơi ?

Tưởng thôi lại bồi-hồi trong dạ,

Nguyệt đồng sinh sao đã kíp phai ?

Xưa sao sớm hỏi khuya bày ?,

Nặng lòng vàng đá, cạn lời tóc tơ ;

Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ ?

Tình cô-đơn, ai kẻ xét đâu !

Xưa sao gang tấc gần chầu,

Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca ;

Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi ?

Tin hàn huyên khôn hỏi thăm lanh !

Nửa cung gẫy phím cầm lành (26),

Nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ !

Nghĩ nông-nỗi ngẩn ngơ đòi lúc,

Tiếng tử-qui (27) thêm giục lòng thương…

Não người thay ! cảnh tiên-hương (28)

Dạ thường quanh-quất, mắt thường ngóng trông…

Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược,

Thấy mênh mông những nước cùng mây !

Đông rồi thì lại trông tây :

Thấy non ngân-ngất, thấy cây rườm-rà !

Trông nam: thấy nhạn sa lác đác !

Trông bắc: thời ngàn bạc màu sương !

Nọ trông trời đất bốn phương !

Cõi tiên khơi thẳm, biết đường nào đi !

Cậy ai có phép gì tới đó,

Dâng vật thường xin ngỏ lòng trung,

Này gương là của Hán-cung

Ơn trên xưa đã soi chung đòi ngày ;

Duyên hảo-hợp xót rày nên lẻ (29) !

Bụng ai-hoài (30) vội ghẽ (31) vì đâu ?

Xin đưa gương ấy về chầu,

Ngõ (32) soi cho tỏ gót đầu trông ơn (33) .

Tưởng linh-sảng (34) nhơn-nhơn còn dấu,

Nỗi sinh cơ có thấu cho không ?

Cung xanh đang tuổi ấu-xung (35) 

Di mưu (36)  sao nỡ quên lòng đoái-thương ?

Gót lân-chỉ (37)  mấy hàng lẫm-chẫm

Đầu mũ mao, mình tấm áo gai (38) ,

U-ơ ra trước hương đài,

Tưởng quang cảnh ấy, chua cay lòng nào !

Trong sáu viện (39) ố đào, ủ liễu

Xác ve gầy, lỏng-lẻo xiêm nghê (40) 

Long đong xa cách hương quê,

Mong theo; lầm lỗi ! mong về: tủi duyên (41) 

Dưới bệ ngọc hàng uyên (42) vò-võ

Cất chân tay thương khó xiết chi  !

Hang sâu nghe tiếng thương bi,

Kẻ sơ còn thế, huống gì người thân (43) 

Cảnh ly-biệt nhiều phần bát-ngát,

Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi !

Càng trông càng một xa vời,

Tấc lòng thảm thiết, chín trời (44) biết chăng ?

Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi,

Gương Hằng Nga đã bụi màu trong !

Nhìn gương càng thẹn tấm lòng,

Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà (?).

Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn,

Cánh hải đường đã quyện giọt sương !

Trông chim càng dễ đoạn trường

Uyên ương chiếc bóng (45), phượng hoàng lẻ đôi.

Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy

Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu.

Phút giây bãi bể nương dâu (46),

Cuộc đời là thế biết hầu nài sao ? (47) 

Chữ “tình nghĩa” trời cao, đất rộng.

Nỗi đoạn-trường còn sống còn đau.

Mấy lời tâm-sự trước sau,

Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho…

Công Chúa Lê Ngọc Hân (1770-1799)

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1 Mộ giả vua Quang-trung ở Linh-đường giáp làng Đại-từ thuộc huyện Thanh trì, tỉnh Hà -động. Tác giả tả, khi thương nhớ, buông mắt xa trông nơi mộ giả ở vùng Cầu-tiên, chỉ thấy mịt-mờ khói tỏa, nào đâu bóng dáng người yêu ?. Còn hai chữ “đỉnh non”, chừng tác giả phỏng bút thêm vào cho nó văn-vẻ.

2 Chi về việc vua Quang-trung đem binh ra Bắc, giệt Trịnh, phù Lê.

3 Xưa, cả nhà có nhiều con gái, cháu gái, khi kén được chàng rể rồi, liền cho cách màn mà rút dây, họ rút được cô nào thì lấy cô ấy làm vợ, vì người chủ-hôn không biết gả ai, đừng ai.

4 Ý nói khắp họ nhà Lê bấy giờ đều được nhờ ơn vua Quang-trung.

5 Lễ tế về mùa thu gọi là “thường”; lễ tế về mùa đông gọi là “trưng”. Ý nói nhờ vua Quang-trung mà tôn miếu nhà Lê được rõ ràng hương lửa,

6 Tung và thu là hai thứ cây người ta thường trồng ở nơi mộ” địa. Ý nói nhờ vua Quang-trung mà lăng-tẩm nhà Lê được giữ gìn nguyên-vẹn.

7 Hòe quế là thành-ngữ chỉ bóng về con cái. Ý nói bấy giờ bà Ngọc-hân đã sinh được mấy con, nhờ vua Quang-Trung như khi dương soi chiếu cho cây cối, nên từ cành đến rễ đều được tốt tươi cả. 

8 Ví tuổi nhà vua được thọ như Nam-sơn. 

9 Trong kinh Thi cổ thơ Thiên-bảo bày tỏ những lời chúc mừng thiên-tử.

10 Quan Phong-phân ở đất Hoa chúc mừng vui Nghiêu: Đa thọ, đa phú và đa nam.

11 Hình-dạng, dáng-vẻ. 

12 Cách biệt, vắng khuất.

  1. “U” là tối-tăm, chỉ về âm-gian; “minh” là sáng-sủa, chỉ về dương gian.
  2. Thành-Thang (1766 tr. T. L.) là vua nhà Thương đánh chúa Kiệt nhà Hạ để cứu dân khỏi vòng khổ-sở.
  3. Chu Võ-vương (1122-1115 tr, T. L) lật đổ chúa Trụ nhà Thượng, thực-hành công-cuộc của dân, phạt tội.
  4. Chỉ vua Quang-trung ban đầu chỉ là một người dân thường mặc áo vải, từ Tây-sơn, phất cờ nồi len. 
  5. Đường Nghiêu 2357-2285 tr, T. L. là vua hiền đời xưa bên Tàu.
  6. Ngu-Thuấn, 2285-2261. tr, T. L. cũng là bực minh quân đời xưa của Trung-hoa.
  7. “Chíp châu” là do chữ “cửu châu” của Tàu mà ra. Vì xưa Tàu chia trong nước làm chín châu, nên sau người ta quen dùng cái thành ngữ ở “chín châu” để chỉ về đất nước.
  8. Ý nói giá thử tác-giả có thể đem thân mình mà thế mạng để nhà vua được sống lâu thêm tuổi thì cũng thỏa lòng.
  9. Đây là một tỉ-dụ: “Xuân” ví với vua Quang-trung; “khoa” ví với Ngọc-hân công-chúa.
  10. Ý nói có thể chết theo chồng bằng cách hoặc tự ải trên rường nhà hoặc tự trầm xuống dòng nước được; nhưng vì còn vướng có hai mụn con hãy còn bé-mọn, trứng nước, nên phải đầu lòng ở lại đề làm tròn bổn-phận người mẹ góa.
  11. Bồng đảo tức là núi Bồng-lai, tên một núi tiên hoặc núi thần. Theo Sử-ký tàu, thì Bồng-lai ở trong Bột-hải, tại đó có các tiên và thuốc bất-tử, có chim muông tuyền trắng và cung-khuyết bằng vàng bạc.
  12. Sông Ngân tức là Vân-hán, cũng có tên là Ngân-hoàng hay Thiên-hàng. Những đêm mây tạnh, trời quang, nhất là những đêm vào khoảng cuối hạ, đầu thu, trên khoảng-không hiện ra một dải sắc trắng đục mờ, loằng-ngoằng như khúc sông, rộng từ 10 đến 15 độ, đó là do vô-số hằng-tinh sáng mờ họp lại thành ra, mà người ta quen gọi là Ngân-hà. Lâu thành thành-ngữ chỉ về cõi nhà trời. – Ý tác-giả nói chiêm-bao thấy mình theo vua Quang-trung hoặc vào cõi tiên, hoặc lên trên trời.
  13. Ngọc-kinh là chỉ về chỗ ở của vị thiêng-liêng. Xuất-xử ở Ngụy-thư chép về Lão-tử nói mình sinh trước trời đất, để giúp muôn loài, ở nơi Ngọc kinh, làm tổng của bậc thần vương. 
  14. Ý nói vợ chồng đang đoàn-tụ, hồng cái chết xông đến cắt giây ân ái khiến người nửa đời lẻ-loi, cũng như đàn cầm mới gảy được nửa cung, thình-lình đứt dây gẫy phím, ai không thổn-thức đau thương ! 
  15. Tức là con quốc, chữ nho gọi là đỗ-nguyên, hoặc tử qui hoặc đỗ-vũ. Mà Đỗ-Vũ thì là tên vua Thục xưa. Trong Thành-đô ký chép rằng: “Đỗ-Vũ chết, hồn người hóa làm con chim tên gọi Đỗ-quyên, cũng gọi là Tử-qui”. Tiếng quốc khắc-khoải ai hoài dễ gợi lòng người nhớ-nhung buồn-bã…  
  16. Chỉ cõi tiên.
  17. Đau-xót rằng duyên vợ chồng đang sum-họp đẹp đẽ nay bỗng chia-rē, le loi! 
  18. Ba chữ bụng ai hoài có người đoán có lẽ là bóng phượng loan.
  19. Vội ghẽ nghĩa là vội vàng chia-ghẽ. Có báo quốc-ngữ in là lạnh-ghẻ.
  20. Ngõ hầu.
  21. Có bản quốc-ngữ in là mông ơn.
  22. Tinh-anh thiêng liêng sáng-láng.
  23. Chỉ về Thái-tử tuổi còn thơ ấu.
  24. Di mưu nghĩa là để lại mưu-mô lo-toan cho con cháu. Đó là lấy chữ trong kinh Thi: “Di quyết tôn mưu”.
  25. Trong kinh Thi, thơ “Lân chỉ” nói về điềm vợ vua sinh nhiều con hay và quí.
  26. Ý nói mấy con hãy còn bé-bỏng, thế mà đã gặp tang tóc đáng thương.
  27. Tức là sáu công. Ý nói cung-nhân trong sáu viện đều phải thảm, kém tươi vì gặp tang vua Quang-trung.
  28. Do chữ nghê thường mà ra. Ý nói cung-nhân vì buồn-rầu mà thân-thể gầy võ tiều-tụy như xác ve, đến nỗi mặc quần áo thấy rộng, lỏng cả ! 
  29. Vì lòng thương nhớ quá đỗi, bồn-chồn muốn theo đi với nhà vua thì âm dương cách-biệt, lạc lối biết tìm đâu ! Hốt-hoảng muốn quay về, sống đời thực-tế, thì những buồn duyên, tủi phận bời bời…
  30. Chỉ về ban-thử trong Triều.
  31. Những kẻ tình thì sơ, ở thì xa tít tận nơi núi sâu hang thẳm, thể mà cũng động lòng bi-thương khi nghe tin nhà vua thăng hà; huống chi những người vừa thân, vừa ở gần, gặp tình cảnh này, xiết bao cảm-thương đau-đớn .
  32. Do chữ  “cửu thiên” mà ra. Chín trời là trung-ương, bốn phương chính và bốn góc. Ý nói tình-cảnh người sống thế này, chẳng hay tinh-linh người thác ở mới của thiên có thấu cho chăng.
  33. Tên một loài chim. Con đực gọi là “uyên” “hoặc oan”, con mái gọi là “ương” thường ở đôi với nhau mà không chia lìa. Nên người ta dùng uyên ương để ví với cặp vợ chồng hòa-thuận. Đây nói “uyên-ương chiếc bóng” nghĩa là chồng chết, vợ còn, ngán nỗi lẻ-loi, chia-rẽ !  
  34. Do câu chữ nho “ Thương-hải biên vi tang điền”  mà ra. Đây là một thành-ngữ chỉ về cuộc thay đổi biến thiên ở đời. 
  35. Mấy tiếng này là dịch theo chữ nho: “Tương nại chi hà”. Cũng như nói: biết làm thế nào, biết tính ra sao !