XX – Đình Hoàng và Đinh Liễn bị giết

Chẳng ngờ người kẻ Đại-đê, 

Là người Đỗ Thích nó đi nhạc-hầu. 

Ơn nuôi được dự ra vào, 

Bề trên yêu đãi, hôm dao triêu gần. 

Nó đi đánh thuế nhà dân, 

Ban đêm nằm mát ngoài sân một mình. 

Hư-không thấy một lưu tinh, 

Sa vào miệng nó, nghĩ mình nó nên. 

Tới thuở được ra vào đền. 

Đom-đóm tranh đèn, ước sáng mọi phương 

Tiên-Hoàng đếm ngự sân vàng. 

Thưởng thu nhở sự Minh-hoàng chơi giăng,

Vui nhân quả chén Đỗ-Lăng, 

Vua cùng thái-tử nghỉ băng ngoài thềm.

Đỗ-Thích nó nhòm biết tin, 

Leo thành nín nặng, nó len mình vào, 

Tiên-Hoàng mải giấc chiêm bao, 

Nó liền đâm tuốt một dao đôi người.

Vua cùng thái-tử hòa đôi, 

Cùng nằm song-sóng, thác nơi bên thềm (1)

XXI – Bạc, Điền giết Đỗ Thích, tôn Định Toàn làm vua

Thái-úy Nguyễn-Bặc, Đinh-Điền, 

Đem quân nã-tróc bốn bên nội-thành.

Bắt được Đỗ-Thích chính-danh, 

Diệt hòa tôn-tộc một manh chẳng còn

Thôi bèn thu liễm kiền-khôn, 

Tiên-Hoàng thái-tử táng ngàn Hoa-lư.

Một Hoàn ra dạ thờ-ơ, 

Có tình ngấp-nghé, muốn cơ vẫy vùng.  

Từ ngày Thích phạm minh rồng, 

Hoàn chấp chửng có lòng minh âm.

Trong nhà thầy tớ nói thầm:  

“Đỗ-Thích nó làm gãi chỗ ngứa tao” 

Ngày sau văn võ hòa triều, 

Tôn phó thái tử xem triều quốc-gia. 

Đại-thần phụ-tá vào ra, 

Tên là Định-Duệ (2) còn thơ ấu-trùng.

Ai ai khuya-sớm một lòng, 

Rắp như Chu Triệu, nhị công cùng hòa.

XXII – Dương hoàng hậu thông giao với Lê Hoàn

Chẳng ngờ Dương-hậu dâm-tà,  

Sẩy chồng ra thói giăng hoa loạn thường. 

Góa liền giồi phấn điểm trang, 

Thướt-tha ăn mặc, vẻ-vang nói cười.

Tìm trong vẽ mặt cắt tay. 

Trăm nghìn chưa được một hai đâu là.

Những tuồng khúm-núm cho qua, 

Ngoài tuy kết giới, trong đà phá môn. 

Thường thay tang-phục hãy còn, 

Nghĩa chồng đạo chúa bỏ chôn đường nào

Ben cùng Lê-tướng thông-giao, 

Cung-cấm ra vào, khi-vũ đồng liêu. 

Lộng-quyền lại được hậu yêu, 

Mướp sơ thêm đắng, lí nào chẳng sai !

Binh-quyền mặc nghĩ trong ngoài, 

Yêu ai thì cất, ghét ai thì dìm. 

Đại-thần lo-lắng ngày đêm, 

Chước nào nhổ được dằm lim ra rày ?

Nghĩ xưng làm phó-tướng rày, 

Xem mua phế-đề chẳng tày đạo con.

XXIII – Bặc, Điền định đánh Lê Hoàn

Xem Định thế đã chon-von, 

Nguyễn-Bặc Đinh-Biền biết ý bảo nhau,

“Tham dâm hoàng-hậu hay đâu, 

Lê-tướng thấy hầu chẳng biết con thơ.

Chúng ta tôi cũ thuở xưa, 

Mặt nào địa hạ thấy vua Tiên-Hoàng.

Tử sinh thề có xanh vàng, 

Trượng phu bao lụy, phô đường bất-nhân.

Liều mình giả nợ tiên-quân, 

Ra binh tử-đế, đón ngăn Lê-Hoàn.

Tướng quân ở trước trăm quan. 

Chẳng toan vì nước, sắm toan nên lòng.”

Hoàn rằng: “Già lẫn nói dong.  

Ai dế dám lòng làm phản mà lo ?”

Hoàn mong giở mặt bấy giờ, 

Lại lòng thương nể thuở xưa đồng-triều.

Lấy làm chẳng xá hôm dao, 

Bốn người lại nhịn, nói nhau thuận-hòa (3)

XXIV – Lê Hoàn làm vua thay Đinh-Toàn 

Lữa-lần tháng trọn ngày qua, 

Tống sai Nhân-Bảo nó hòa đem binh, 

Đều lòng kết-hảo Chiêm-thành (4). 

Thấy trong trung quốc bất bình chúa tôi.  

Thư vào cào cấp tới nơi, 

Bấy chầy thái-hậu liền sai Lê-Hoàn, 

Ấn phong làm thập-đạo quyền, 

Một trăm tướng thuộc, mười vàn tinh-binh, 

Hoa-lư từ đấy khởi trình, 

Tinh-kỳ lá rợp, quân binh chất ngàn.

Giữa đường ban tối đóng đoàn, 

Quan quân cả bé cùng toan rằng vầy.

“Bây giờ chúa ấu thơ ngây.. 

Xem xưa Sài-thị mới rày bảo nhau.

Dầu phá được giặc chưng sau, 

Thủa công-lênh ấy, ai hầu kể cho ?

Trần-Kiều thủ-tín thuở xưa. 

Tống-hoàng sư ấy. bây giờ phải chỉ !”

Dưới trên thảy-thảy cùng nghe, 

Bèn tôn nhập-đạo thay vì nhị Đinh.

Binh trở lại Hoa lư thành, 

Quan quân đâu đấy phục tình làm tôi (5)

Số trong còn có bốn người. 

Dấy từ thuở nhỏ theo đòi tiên-vương.

Từ ngày sẩy mặt Đinh Hoàng, 

Thấy con chúa ấu, lòng còn riêng lo.

Dương-hậu ra dạ dâm-ô. 

Vun giồng Tháp-đạo, bây giờ cướp ngôi.  

Còn mặt mũi nào mà coi ! 

Lòng người chẳng biết, lòng giới đã hay.

Tuyệt hơi cho kẻo lấm tay, 

Lê-Hoàn cám cảnh, mặt dầy làm thinh.

Dương-Hậu từ nghe biết tình, 

Sửa-sang dù-tán sắm-sanh cổn-bào. 

Hoàn đến, hậu bước ra chào, 

Tỉ phu hoàng-việt cất trao Lê-Hoàn. .

Lập đền lên Bảo-thái sơn (6), 

Định độ thôi đã trăm quan bảo trầu…  

Cự-Lạng Tử-An bèn tâu (7): 

Giảng phong thiếu đế được hầu Vệ-vương (8). 

(Trích ở quyển Thiên-Nam ngữ-lục ngoại-kỷ. Sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 478, tờ 66b-68b).

Ứng hòe-NGUYỄN VĂN TỐ sao lục

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941) 

1) Đại- Việt sử ký tiền biên (bản-kỷ, quyển 1, tờ 8ab) chép: mùa đông tháng mười năm kỷ-mão (979) chi-hậu nội-nhân là Đỗ-Thích giết vua Đinh Tiên-Hoàng và Nam Việt vương. Liễn-Lữ Định quốc-công là Nguyễn-Bặc giết được Đỗ-Thích. Khi truớc Đỗ-Thích người làng Đại-đê, huyện Thiên-bản) làm Đồng-quan lại (Việt-sử cương-mục, chính biên, quyển 1, tờ 8b, không xét được Đồng-quan là đân) đêm nằm trên cầu chợt thấy sao sa vào miệng, cho là điềm tốt, ngắm toàn cơ-đồ nhớn, đến tháng mười năm kỷ-mão (979) nhân vua Tiên-Hoàng ăn yến đêm, nằm trong sân cung bèn giết Vua và Nam-Việt vương Liễn. Lúc bấy giờ bắt đua nghịch-tặc rất gấp. Đỗ-Thích nằm nép ở cái mang trong cung, hơn ba ngày khát quá, gặp mưa thò tay hứng nước uống: cung-nữ trông thấy, bảo Bặc; Bặc sát người bắt chém, tan xương nát thịt, người trong nước ai cũng tranh nhau ăn”. Đại-Việt sử ký toàn-thư, bản-kỷ, quyển 1, tờ 6a, chép thêm một câu rằng: “chia cho người trong nước ăn, chẳng ai là chẳng tranh ăn”. Việt-sử cương-mục (chính-biên, quyển 1, tờ 8b) chỉ chép: “Bặc bắt chém bèn cùng lũ Đinh-Điền, Lê-Hoàn phụng Vệ-vương là Toàn lên ngôi, truy-tôn vua Đinh là Tiên-hoàng-đế. Vua Đinh lên ngôi mười hai năm (968-979), thọ năm mươi sáu tuổi”. Táng ở Trường-yên, trên núi Mã-yên (Ninh-binh). 

2) Tên húy Vệ-vương là Đinh-Toàn (hoặc Tuyền, hoặc Duệ). Toàn là con thứ vua Tiên-hoàng, lên ngôi tám tháng. Lê-Hoàn (980-1005) cướp ngôi, giáng-phong là Vệ-vương như trước cũ, thọ mười tám tuổi (Đại-Việt sử-ký tiền-biên, bản-kỷ, quyển 1, tờ 9a; Đại Việt sử-ký toàn-thư, bản-kỷ, quyển 1, tờ 7a).

3) Đoạn này chính sử chép hơi khác. Theo quyển Đại Việt sử-ký tiền-biên (bản-kỷ, quyển 1, tờ 10b), thì “Lê Hoàn nhiếp chính, xưng là phó-vương. Định quốc-công là Nguyễn Bặc, ngoại-giáp là Đinh-Điền (người Hoa-lư) Phạm Hạp (người Nam-sách) khởi binh đánh Hoàn không được, bị chết. Bấy giờ vua Đinh Toàn (979-980) nối ngôi, mới lên sáu: lũ Điền đều là đại-thần phụ-chính. Duy một mình Hoàn coi quần-lữ, được ra vào trong cung cấm: thái-hậu trông thấy phải lòng, sai quyền nhiếp làm việc như Chu-công. Hoàn giữ quân-quốc, lại cậy thái-hậu yêu, khinh-dể kẻ cùng hàng, không kiêng-nể ai, Điền, Hạp nhiều điều không bằng lòng, cùng tham mưu rằng: ‘Thái-hậu nội loạn, Hoàn có nhẽ không lợi cho vua nhỏ. Lũ ta chịu ơn sâu của nước: nếu chẳng sớm làm sạch bên cạnh vua đồ tuyệt gốc loạn, thì mặt mũi nào trông thấy đứng Tiên-đế ở dưới suối vàng !’ Bèn cũng đem nhau khởi binh, chia thủy lực hai đường, đến Kinh-sư muốn giết Lê-Hoàn, Thái hậu nghe thấy sợ bảo Hoàn răng: ‘Lũ Bặc khởi loạn, kinh-động bang-gia. Vua nhỏ thơ ngây, chưa kham hoạn-nạn: ông nên lo-toan’ Hoàn thưa rằng: ‘Tôi làm nhiếp-phó, chết sống họa biến, trách-nhiệm ở tôi’ Bèn sửa-sang quân-đội, cùng Đặc Điền đánh nhau ở Tây-đô (Ái-châu, xem nhới bàn trong Việt-sử cương-mục, chính biên, quyển 1, tờ 10b). Lũ Bắc thua chạy, lại đem thuyền quân tiến đánh. Hoàn nhân gió đốt lửa, cháy cả chiến-hạm. Điền chết ở trận, Bặc bị đóng cũi, đưa về kinh-sư. Hoàn kể tội rằng: ‘Đứng Tiên-đế mắc nạn; thần và người còn lấy làm tức giận. Mày làm thần-tử, nhân khi táng loạn, gây sự đánh nhau, nghĩa thần-tử. lại như thế ư!’ Bặc, Điền đã thua, thế quân của Hạp bị kém, chạy tan đến làng Cát-lợi (Bắc-giang). Hoàn đem quân đuổi bắt đem về. Xét dật-sử, Hoàn mới nhiếp-chính, lũ Bặc biết Hoàn thế nào cũng cướp ngôi, đem tử-đệ đón Hoàn ở đường, lấy đại-nghĩa trách Hoàn và định tuẫn tiết.

Hoàn tạ lỗi rằng: ‘Các ông nhầm, trông tôi có phải là người làm phản đầu ?’ Nói đoạn, cùng nhau tỏ ý thân thiết rồi về. Song đều có chí lừa khe nhau. Kịp khi Hoàn đem quân vào nội, được truyền ngôi, lũ Bặc theo nghĩa không chịu khuất, đồn trốn đi, Hoàn cũng không hỏi đến. Đoạn ấy cùng với chính-sử khác hẳn, chép đồ còn ngờ”.

4) Chiêm-thành (Champa) tức là Lâm-ấp ngày xưa: Việt sử cương-mục chua ở tiền-biên thuộc Tấn Mục-đế năm Vĩnh-hòa thứ chín (tức là năm 353 sau kỷ-nguyên). Đạt Việt sử-ký tiền-biên (bản-kỷ, quyển 1, tờ 12b) chép việc sau này nói về Chiêm-thành, xét ra có quan-hệ với vua Đinh Tiên Hoàng:  “Ngô Nhật-Khánh đem người Chiêm vào ăn cướp nước ta. Nhật-Khánh là dòng dõi tiên chúa Ngô quyền (939-944). Lúc đầu xưng là An vương, cùng với mười hai xứ quân đều giữ cõi đặt. Tiên Hoàng đánh được yên, lấy mẹ hắn làm hậu (vợ vua), con gái hắn làm phu nhân cho Nam Việt vương Liễn ; như thể hãy còn sợ oán vọng sinh biến, lại phải đem công chúa gả cho hắn. Nhưng Nhật Khánh trong lòng vẫn bất bình, đem vợ chạy đi Chiêm Thành, đến Nam giới hải môn (ở Thiên-lộc Thạch Hà, chỗ hai huyện chia bờ cõi), rút con dao đeo, vạch vào má công chúa, kể rằng: “Cha mày dỗi hiếp mẹ con ta, ta há vì mày mà quên thù ư ? Hãy trở về, ta lấy người khác để tìm người có thể cứu giúp ta”. Nói xong, bèn đi. Đến năm kỷ-mão (978) nghe vua Tiên hoàng mất, đem người Chiêm vào cướp. Vua nước Chiêm là Ba-nhĩ-thuê-dương-bô ân-trá (Paramecvarman đệ nhất, xem quyển Le rogaume de Champa của ông G, Mas pero, trang 121-123) lợi dụng nước ta có chuyện đem hơn nghìn chiếc thuyền quân, theo đường bể tiến lên, ngôn đánh thành Hoa-lư, đi qua hai cửa bể Đại-nha (Đại-An) và Tiền-khang (tiền hải-khẩu, Ninh-bình), hơn một đêm, gặp cơn gió lớn, thuyền đều chìm đắm: Nhật-Khánh và người Chiêm đều chết đuối, duy có thuyền vua Chiêm thoát nạn. Vua Chiêm thu những quan sống sót đem về.” Đại-Việt sử ký toàn thư (bản-kỷ, quyển 1, tờ 8v) và Việt-sử cương mục (chính-biên, quyển 1, tr11a-12a) cũng chép truyện Nhật-khánh như thế. Cương-nục chua “Nhật-Khánh là người Đường-lâm, Đường-lâm nay là xã Cam-lâm, thuộc huyện Phúc-thọ, tỉnh Sơn-tây.

5) Về việc nhà Tống định sang lấn, Đại-việt sử ký tiền biên (bản-kỷ, quyển 1, tờ 13a) Chép như thế này: “Năm canh-thin 980, phế-đế theo niêu-hiệu Thái-bình thứ mướt một: từ tháng bảy giở đi là Lê đại-Hành. Thiên-phúc năm thứ nhất. Mùa thu tháng bảy nhà Tống sai sứ là lũ Hân Nhàn-Bao đem quân đến xâm-phạm. Trước đây (mùa hè tháng sáu) quân nhà Tống ở Ung-châu (thuộc Quảng-tây) là Hầu nhân-Bảo tâu với Vua nhà Tống rằng: “Giao chỉ quận vương Cha con đều bị giết, nước ấy sắp mất, nên nhân lúc này đem quân sang lấy. Bỏ dịp này chẳng tính, sợ mất cơ hội, xin đến cửa quyết bầy tỏ tình trạng nên lấy”. Vua nhà Tống mừng, sai vời về ngay. Lư Đa-Tôn nói: “Giao-châu nội loạn: đó là lúc giời làm mất. Triền-đình ta xuất…. dùng quân đánh úp, hư là tiếng sấm đùng một cái chẳng kịp che tai. Nên gọi Nhân Bảo về trước, mưu lấy tiết lộ, xẻ kia (là nước Đại Cồ-viêt phòng bị, thì thế được thua chưa thể biết được. Chẳng bằng lá trao cho  Nhân-Bảo chức Phi vân, sai sửa-sang công-việc, tuyển tướng, đem ba vạn quân ở Kinh Hồ, giong-ruổi mà tiếp, thế chắc vẹn toàn, hẳn không lo gì phí mắt, mũi tên”. Vua nhà Tống cho là phải, đến đây (là tháng bảy), lấy Nhân-Bảo làm Giao-châu thủy-lục truyển vận sứ, Tôn Toàn-Hưng làm Lan-lăng đoàn huyện-sứ, Thích Thủ Tuấn làm Tất-tác sứ, Trần Khảm-Tộ làm Yên-bi khố sứ, Tả-giám-môn tướng-quân là Thôi-Lượng làm Binh-mã đô-bộ-thự ở Ung-châu lộ, Lưu-Trừng làm Ninh cho thứ-sử, Giả-Thực làm Quân-khí-khố phó-sử, Cung-phụng quan hạp-môn chi-hậu là Vương-Soạn làm Binh mã đô-bộ thự ở Quảng-châu lộ (chỗ chép là Liêm-châu). Hưng chiếu cho Toàn-Hưng, Trương-Tuấn, Thôi-Lượng, đem quân đường bộ từ Ung-chân vào; lũ Lưu Trưng, Giả-Thực, Vương-Soạn đem quân đường thủy tụ Quảng-châu vào, hẹn ngày lại xâm chiếm. Dương Thái-hậu sai Lê-Hoàn đem quân ra chống-cự với nhà tổng. Hoàn tự lập làm hoàng đế, bỏ vua Đinh-Toàn làm Vệ vương, Lúc bấy giờ ở Lạng-châu (tức là Lạng-sơn bây giờ) nghe quân nhà Tống sắp đến, sợ đem tình-trạng tâu vua nghe. Thái-hậu sai La-Hoàn kén dũng-sĩ chống-cự. lấy người ở Nam-sách giang là Phạm-Cự-Lạng làm đại-tướng quân, hai người bàn kế xuất quân. Cự-lạng cùng mọi tướng đều mặc đồ nhung phục, thẳng vào trong phủ bảo chúng rằng: “Thưởng kẻ có công mà giết kẻ không theo mệnh, là phép sáng của việc quân. Nay chúa thượng ấu-nhược, lũ chúng ta tuy hết sức liều chết, chống với kẻ ngoại-vũ(ko ngoài khinh-dể), nếu có chút công nào thì ai biết cho?. Chẳng bằng trước bây tôn Thập đạo làm thiên tử, rồi sau đã ra quân”. Quân sĩ đều hộ vạn tuế, Thái hậu nghe thấy, sài hữu tỳ đem lỗ-bộ đếc Hoàn vào cung, lấy áo long-cổn khoác cho mình Hoàn, mời lên ngai. Hoàn bèn lên ngôi hoàng-đế, đổi niêu hiệu Thiên-phúc, giáng phong thiếu-để làm vệ-vương như tước cũ”. 

6) Quyển Thiên-nam ngữ lục chua sáu chữ : (Thanh-liêm huyện, Bảo-thái xã. (Bio-thái nay là làng Ninh-thái tỉnh Hà-nam. Việt- sử cương mục (chính-biên, quyển 2, tờ 9-10a) chép rằng: “Mùa thu tháng bảy năm canh tuất Thuận-thiên thứ nhất (1010) Lý Thái Tổ (1009-1028) dời đô ra Thăng long (Hà-nội). Vì cho thành Hoa-lư chật hẹp, muốn dời, dụ quần thần rằng nhà Thương năm lần dời kinh-đô, nhà Chu ba lần, đều là trên vâng mệnh giời, dưới theo chí dân, làm kế muôn đời. Gần đây nhà Đinh (968-980), nhà Lê (980-1009) theo ý riêng, yêu chỗ ở, không nghĩ kế lo xa, cho nên hưởng nước không được lâu dài…” v. v. Cương-mục thêm một câu rằng: “ Vua Lý thái-Tổ từ thành Hoa lư dời kinh đô ra thành Đại la (Thăng-long)”. Như thế thì kinh đô nhà Tiền Lê vẫn ở Hoa-lư, chứ không phải ở Bảo-thái, như thời chép trong Thiên-nam ngữ-lục.

7) Sử thần Nguyễn Nghiêm (đỗ khoa tân hợi đời Lê Vĩnh-khanh, 1731) bàn rằng: “Xét sự thể bấy giờ, Thập-đạo đó là một Điểm-kiểm thứ hai, Phủ-trung đó là một Trần-kiều thứ hai, Phạm-cư-Lạng đó là một Thạch-thủ-Tín thứ hai: cái tội thoán-nghịch không đợi phiền đến răng lợi người ta! Lại xót Cự Lang là người Chí-linh, ông nội là Thêm, thờ Ngô-vương làm Đông giáp tướng quan, cha là Man làm quan thị Nam tấn đơn chức tham-chính đô-đốc. Thời Đinh tiên Hoàng anh là Hạp làm vệ úy, cùng Nguyễn Bặc Đinh-Điền cùng mưu xướng nghĩa, thê Hạp có phải là anh Cự Lạng không. Nay Cự trái nghĩa mưu lợi, mù mịt tối tăm, coi anh là người thế nào?. Tập-truyện chép Cự-Lạng sau khi mất, Thượng-đế bổ làm Nam-đài chủ-nghi-ngục. Đến nay những nơi công-sảnh đều thờ làm ngục chủ, gọi là Hồng thành đại vương, tại làm sao mà được báo ứng như thế”. (Đại-việt sử-ký tiền biên, bản kỷ, quyển 1, tờ 14 a-b).  

8) Quyển Thiên-nam ngữ-lục ngoại-kỷ (tờ 66 b) chép tài sấm sau này vào truyện nhà Đinh, tuy bài sấm không dính dáng gì với vua Đinh tiên Hoàng. Quyển Đại-Việt sử ký toàn-thư (quyển 1, tờ 31a) thì chép vào truyện Lê ngọa-triều. Nguyên văn chữ Hán như thế này: “Thụ căn diểu-diểu, mộc biểu thanh-thanh. Hòa đao mộc lạc, Thập bát tử thành. Đông a nhập địa, Dị mộc tái sinh. Chấn-cung hiện nhật, Đoài-cung ẩn tinh, Lục thất niên gian, Thiên hạ thái bình”, nghĩa là rễ cây héo kéo, ngọn cây xanh xanh; cây hoa đào rụng, mười tám gã thành; họ Đông-a vào cõi, cây lạ lại sinh; cung chấn mặt giời mọc, cung đoài sao ẩn hình, trong khoảng sáu bảy năm, thiên hạ được thái bình. Quyển Đại-Việt sử-ký toàn-thư chép rằng sư Vạn-hạnh cắt nghĩa bài sấm ấy như thế này. “Thụ căn diểu diển ) căn là gốc, gốc vi vui, diểu đồng âm với yểu là chết non; Vua Lê-long-Đĩnh (tức Ngọa-triều, 1005-1009) chết non. “mộc biểu thanh thanh”, biểu là ngọn, ngọn ví bầy tôi; thanh là xanh cùng tiếng với thanh là tốt. Lý Công Uẩn (Lý thái Tổ, 1009-1028) lên làm vua. “Hòa đao mộc” chắp lại thành chữ Lê. “Thập bát tử” thành chữ Lý. “Đông-a”là họ Trần, “nhập địa” là vào cõi, tổ tiên nhà Trần ở tàu sang. “Dị mộc” là họ Lê sau,  “tái sinh” lại làm vua. “chấn cung hiện nhật”: chấn là phương đông, nhật là mặt giời, vì vua; hiện là mặt giời mọc, tức là vua ra, “Đoài cung ẩn tinh”: đoài là phương tây, tinh là sao, ví thứ dân, ẩn là mất. Hai câu dưới cùng không phải cắt nghĩa, nhưng có người nói bóng rằng: “lục thất niên gian”, không phải là trong sáu bảy năm, mà chính là đến năm 42 (sáu – bảy = bốn-hai)  tức là năm 1942, thiên hạ được thái bình (?). Dù thế nào chăng nữa , hai sấm trên kia có thể nói tắt lại như thế này: Vua chết non, bầy tôi thịnh, nhà Lê mất, nhà Lý nên, phương đông vua ra, phương tây dân mất , trải sáu bảy năm, thiên-hạ được yên.