Chính phủ Hoa Kỳ hiện đang thúc đẩy một kế hoạch cơ sở hạ tầng mới hoàn toàn giống với kế hoạch giải cứu 5 ngàn tỷ nhân dân tệ (NDT) của Bắc Kinh hồi năm 2009. Việc in tiền hàng loạt giữ một vai trò quan trọng trong cả hai kế hoạch. Các nhà lập pháp Hoa Kỳ có thể học hỏi kinh nghiệm của Trung Cộng bằng cách hiểu sâu hơn về chương trình kích thích kinh tế năm 2009 của Bắc Kinh.

Nhìn lại, kế hoạch giải cứu trị giá 5 ngàn tỷ NDT (tương đương khoảng 781 tỷ USD ngày nay) của Bắc Kinh đã thành công trong việc duy trì việc làm, nhưng lại là một sự thất bại bởi vì toàn bộ cấu trúc kinh tế Trung Quốc đã bị bóp méo. Trung Cộng chuyển sang phụ thuộc vào bất động sản và hạn chế tiêu dùng của công dân Trung Quốc. Một kết quả thảm hại hơn của kế hoạch năm 2009 là đã tạo ra một hệ thống đường sắt, đường cao tốc và cơ sở hạ tầng khổng lồ, dư thừa công suất, khiến phần lớn tài sản chuyển hướng sang bất động sản, đặc biệt là nhà ở dân dụng. Do hệ quả của tình trạng dư thừa nghiêm trọng này, Trung Quốc đã tạo ra Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI, còn được gọi là “Một vành đai, một con đường”). Sáng kiến ​​này ít đem lại hiệu quả kinh tế cho Trung Quốc và đã gây ra phản ứng dữ dội trên toàn cầu, khi mà nhiều dự án BRI đã lẳng lặng biến thành những chương trình “viện trợ ngoại quốc”.

Vậy thành công và thất bại, được và mất của kế hoạch giải cứu 5 ngàn tỷ NDT là gì?

In tiền hàng loạt

Kể từ năm 2009, nền kinh tế Trung Quốc đã dựa vào việc in tiền để kích thích tăng trưởng. Sau khi tiền mặt được phân phối, phần lớn được chuyển vào bất động sản; phần còn lại chỉ đơn giản là được bổ sung thêm vào chuỗi nợ.

Các biệt thự thuộc bất động sản “Viva Villa” do công ty bất động sản Ping An Real Estate phát triển đang được xây dựng tại khu tự trị Xishuangbanna Dai, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, ngày 20/06/2019. (Ảnh: Lusha Zhang/Reuters)

Năm 2010, ông Wu Xiaoling, cựu Phó Giám đốc Ủy ban Tài chính và Kinh tế của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, nói rằng “Trong 30 năm qua, Trung Quốc đã nỗ lực in tiền để kích thích tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.” Theo một bài báo năm 2013 được công bố trên cổng thông tin Trung Quốc Tencent Finance, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản, Hoa Kỳ, và các nước thuộc Liên minh Âu Châu để trở thành “cỗ máy in tiền” lớn nhất thế giới kể từ năm 2009. Năm 2012, khoảng 26 ngàn tỷ NDT (khoảng 4.1 ngàn tỷ USD ngày nay) được thêm vào lưu thông tiền tệ toàn cầu từ tất cả các quốc gia, Trung Quốc chiếm một nửa số tiền đó. Sau khi cân bằng những khác biệt về thu nhập bình quân đầu người, các ước tính đã xếp lượng tiền được tạo ra của Trung Quốc là cao nhất trên thế giới.

Trung Quốc đã thực sự in bao nhiêu tiền mặt? Chúng ta hãy xem xét các yếu tố sau đây. Thứ nhất, việc phân phối tiền tệ của Trung Quốc được thực hiện với tốc độ lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP của họ. M2 của Trung Quốc [thước đo lượng cung tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi vãng lai, và tiền dễ chuyển đổi] đã tăng với tốc độ trung bình 18% mỗi năm từ năm 2002 đến 2012, trong khi GDP trung bình tăng với tốc độ 9.5% trong cùng một khoảng thời gian. Thứ hai, cho đến cuối năm 2011, tỷ lệ M2 so với GDP của Trung Quốc là 1.89. Điều này cho thấy sức mua của đồng NDT đang giảm mạnh và Trung Quốc lẽ ra đã chìm vào một thời kỳ lạm phát cao kéo dài. Trước tình hình đó, một số chuyên gia đã đề nghị phân phối tiền giấy có mệnh giá lớn ở Trung Quốc để thuận tiện cho việc lưu thông và giảm chi phí in tiền. Tuy nhiên, Bắc Kinh thà chịu chi phí in tiền mệnh giá thấp hơn là sản xuất những loại tiền [có mệnh giá] lớn hơn. Trung Cộng muốn che giấu tình trạng lạm phát tràn lan để tránh gây hoang mang cho người dân, khi có nhiều người bày tỏ nghi ngờ về sự ổn định của nền kinh tế Trung Quốc.

Bất động sản hạn chế tiêu dùng

Hầu hết người dân Trung Quốc có thu nhập hạn chế, và vì họ khá sợ lạm phát nên thường tìm thấy niềm an ủi trong lĩnh vực bất động sản. Đó là lý do tại sao chi tiêu cho bất động sản nhà ở đã tăng mạnh hết năm này sang năm khác. 

Một vài ví dụ về các khoản chi được liệt kê dưới đây cho những năm đã vượt qua mốc 100 tỷ NDT (khoảng 15.7 tỷ USD), 1 ngàn tỷ NDT (khoảng 157 tỷ USD), và 10 ngàn tỷ NDT (khoảng 1.57 nghìn tỷ USD).

Từ dữ liệu chính được cung cấp ở trên, có thể suy ra rằng:

  1. Trong 22 năm, giá bất động sản của Trung Quốc đã tăng gấp 4 lần.
  2. Người dân có ít tiêu dùng vì hầu hết tiền của họ đều đổ vào bất động sản. Các ước tính đã đưa số tiền chi cho bất động sản vào khoảng 12.45 ngàn tỷ NDT (1.95 ngàn tỷ USD) vào năm 2019, tăng lên 13.90 ngàn tỷ NDT (2.18 ngàn tỷ USD) vào năm 2020. Tốc độ tăng trưởng 11.6% này cho thấy rõ ràng rằng người dân đại lục rất sẵn lòng giảm chi tiêu hàng ngày để có thể mua nhà.

Doanh thu của chính phủ phụ thuộc nhiều vào bất động sản

Theo thống kê chính thức của Trung Quốc, doanh thu do bán đất tạo ra vào năm 2020 là 8.41 ngàn tỷ NDT (1.32 ngàn tỷ USD), và trong cùng năm đó, tổng doanh thu tài khóa quốc gia đạt khoảng 18 ngàn tỷ NDT (2.82 ngàn tỷ USD). Tiền bán đất đã chiếm tới 44% doanh thu của quốc gia và 84% doanh thu địa phương. Trong hoàn cảnh đó, dù là chính quyền trung ương hay chính quyền địa phương, các nhà chức trách Trung Quốc đều không muốn điều chỉnh cấu trúc kinh tế vốn rõ ràng là dựa vào bất động sản.

Bắc Kinh cũng khó điều chỉnh cấu trúc kinh tế căn bản vì tiêu dùng nội địa của Trung Quốc đang suy giảm dần. Kết quả là, không cần phải cải thiện trong lĩnh vực công nghiệp và sản xuất.

Cách đây vài năm, tôi đã viết một bài báo phân tích cách Trung Cộng kiểm soát giá bất động sản và các hoạt động để duy trì bong bóng. Sau năm 2009, khi chính phủ cần doanh thu, các công ty bất động sản cần thị trường và các chủ sở hữu bất động sản cần duy trì sự giàu có của họ, vào những năm 2010, một “liên minh” không chính thức đã được thành lập giữa các nhóm lợi ích này khi tất cả đều cần bong bóng bất động sản để trụ vững. Đây là lý do tại sao thị trường bất động sản của Trung Quốc vẫn chưa sụp đổ.

Một quan niệm sai lầm phổ biến: Xuất cảng của Trung Quốc ‘hồi sinh’

Vào năm 2020, xuất cảng của Trung Quốc đã tăng lên, và ngoài các phương tiện truyền thông nhà nước, nhiều đài truyền hình của Hoa Kỳ đã nói rằng nền kinh tế Trung Quốc có thể sớm cạnh tranh với xứ cờ hoa.

Công nhân làm khẩu trang y tế tại một nhà máy ở Jishou, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, hôm 28/01/2021. (Ảnh: STR/AFP/Getty Images)

Về việc nền kinh tế Hoa Kỳ sẽ phát triển như thế nào, chính phủ Tổng thống (TT) Biden đã cho thấy rằng họ đang hướng tới sự hài lòng về ý thức hệ hơn là tuân theo các thông lệ thị trường. Nhưng nếu phân tích các mặt hàng mà Trung Quốc xuất cảng, chúng ta có thể thấy rằng vật tư y tế, đồ gia dụng, và văn phòng gia đình là ba danh mục chính thúc đẩy xuất cảng vào năm 2020. Các yếu tố đóng góp lớn nhất vào sự gia tăng xuất cảng là vật tư y tế và hàng dệt may vốn cần thiết trong việc sản xuất khẩu trang – cả hai đều tăng lần lượt là 40.5% và 29.2%. Các mặt hàng xuất cảng phổ biến khác bao gồm máy điện toán xách tay (được sử dụng cho văn phòng tại gia đình và giáo dục tại nhà); và đồ nhựa ở dạng đồ dùng hàng ngày, đèn, đồ nội thất, đồ chơi, v.v. Do tỷ lệ xuất cảng của Trung Quốc tăng đột biến này có liên quan chặt chẽ với đại dịch đang diễn ra, nên chắc chắn rằng xu hướng này sẽ không tiếp tục, đặc biệt là sau khi vaccine COVID được phân phối rộng rãi vào giữa năm 2021.

Vào cuối tháng 03/2021, hơn 20 chuyên gia tư vấn, giáo sư đại học và cựu cố vấn kinh tế của tổng thống Hoa Kỳ đã đến Trung Quốc để tham gia “Diễn đàn phát triển Trung Quốc 2021”. Các tổ chức và học giả này là những cố vấn quan trọng nhất trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc. Một số người trong số họ tiết lộ tại cuộc họp rằng chính phủ TT Biden sẽ mua một lượng lớn hàng hóa từ Trung Quốc, Nhật Bản, và Liên minh Âu Châu sau khi kế hoạch cơ sở hạ tầng mở rộng được thực hiện. [Và] đây là một tin tốt cho Trung Quốc.

Sau Đệ nhị Thế chiến, chính phủ TT Roosevelt áp dụng chính sách tiền tệ tự do hóa, theo đó việc in tiền hàng loạt là chính đáng thông qua các lý do như giảm tỷ lệ thất nghiệp và kích thích nền kinh tế thông qua đầu tư tài chính. TT Franklin Roosevelt đã nhận được nguồn cảm hứng cũng như lời khen ngợi từ nhà kinh tế học John Keynes, người tạo ra trường phái Kinh tế học Keynes, vì đã thực hiện lý thuyết này. Bắt đầu từ cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, mô hình kinh tế này đã thống trị các nền kinh tế phương Tây, và mặc dù chỉ có những khía cạnh tích cực của nó được chính thức đề cập đến, khoảng 30% các nhà kinh tế đã phản đối mạnh mẽ. Cho đến ngày nay, các ngân hàng trung ương của hầu hết các quốc gia đều hoạt động theo học thuyết kinh tế Keynes và đều theo đuổi một chính sách tiền tệ tự do.

Khi Trung Quốc khởi xướng chương trình kích thích kinh tế trị giá 5 ngàn tỷ NDT vào năm 2009, phương Tây đã đồng loạt cổ vũ và nhận xét rằng Trung Quốc đã cứu nền kinh tế toàn cầu trong thời kỳ suy thoái. Mặc dù vậy, Trung Quốc vẫn đang chịu hậu quả rất lớn từ chương trình kích thích kinh tế và không có cách nào thoát khỏi cấu trúc kinh tế bị biến dạng của mình. Những sai lầm của Trung Quốc thật đáng học hỏi.

Bà Hứa Chính Lan (He Qinglian) là một tác giả và nhà kinh tế học nổi tiếng của Trung Quốc đang làm việc tại Hoa Kỳ. Bà là tác giả của cuốn sách “Cạm Bẫy của Trung Quốc,” liên quan đến tham nhũng trong việc cải tổ kinh tế của Trung Quốc vào những năm 1990 và cuốn sách “Sương Mù Kiểm Duyệt: Kiểm Soát Truyền Thông ở Trung Quốc,” đề cập đến việc thao túng và hạn chế báo chí. Bà thường xuyên viết về các vấn đề kinh tế và xã hội đương đại của Trung Quốc.

Quan điểm trong bài viết này là ý kiến ​​của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.

He Qing Lian
Kim Liên biên dịch