Trung y cho rằng thận là gốc rễ của tiên thiên, trong hết thảy các phương pháp dưỡng sinh, dưỡng thận là một khâu rất trọng yếu. Có một số động tác hàng ngày đơn giản, có thể đạt được hiệu quả dưỡng thận.

Muốn nói đến dưỡng thận, trước hết nhất định phải hiểu “Thận” trong Trung Y là gì, bao gồm những bộ vị và chức năng nào.

Thận nằm ở hai bên cột sống phần thắt lưng, mỗi bên có một quả. Chức năng sinh lý chủ yếu của thận là: chủ tàng tinh, chủ thủy, chủ nạp khí. Bởi vì thận tàng tinh tiên thiên, chủ sinh sản, là gốc rễ sinh mệnh thân thể con người, cho nên gọi thận là “gốc rễ của tiên thiên”. Thận tinh hóa thận khí, thận khí phân ra âm dương, thận âm và thận dương có thể hỗ trợ, thúc đẩy, cân bằng âm dương đối với các tạng phủ trong toàn cơ thể, cho nên thận còn được gọi là “gốc âm dương của ngũ tạng”. Thận tàng tinh, chủ giấu kín, còn được gọi là gốc phong tàng.

Thận trong cơ thể hợp cốt, sinh tủy, thông não, biểu hiện ra ở tóc, khai khiếu ra ở tai, nhị âm (tiền âm: nơi bài tiết nước tiểu, hậu âm: nơi đại tiện), và dịch nước bọt. Kinh Túc Thiếu Âm Thận với kinh Túc Thái Dương Bàng Quang thúc đẩy lẫn nhau thuộc về Thận và Bàng quang, có mối liên hệ biểu – lý. Thận thuộc hành Thủy trong Ngũ hành, thuộc âm trong âm dương, tương ứng với mùa đông trong tự nhiên. 

Dưới đây xin giới thiệu 4 phương pháp dưỡng thận đơn giản.

4 động tác dưỡng thận hàng ngày

1. Nuốt nước bọt

Từ xưa đến nay nước bọt được coi là “kim tân ngọc dịch”, thận sinh dịch thành nước bọt, nuốt nước bọt có thể bổ dưỡng thận tinh.

Trương Cảnh Nhạc thời nhà Minh cho rằng: “Nuốt khí và nước bọt, gọi là nước Thiên trì, tư tinh và khí huyết, làm sạch nội tạng, sinh tưới nguyên hải, một là nước Ly cung, một là Ngọc trì, một là nước Thần, không được nhổ đi, mà có thể mồi để bổ sung tinh khí, bổ huyết, có thể ích khí cho Nguyên Hải”.

Lý Thời Trân thời nhà Minh viết rằng: “Nước bọt chính là tinh khí của con người biến thành. Con người có thể mỗi buổi sáng súc miệng đánh răng, lấy nước bọt rửa mắt, và thường dùng lưỡi liếm móng ngón tay cái, lau mắt, lâu ngày làm cho mắt sáng không bị mờ, còn có thể làm tiêu vảy mắt”. 

Các nghiên cứu hiện đại phát hiện, nước bọt có thể phòng ngừa ung thư, kháng bệnh độc, điều tiết sức đề kháng.

Dưới đây xin giới thiệu hai phương pháp dưỡng sinh đơn giản bằng cách nuốt nước bọt:

Vào sáng sớm dậy ngồi ngay ngắn trên giường, tiếp tục dùng “lưỡi đặt lên hàm trên” trong vài phút, đến khi trong miệng đầy nước bọt, làm động tác súc miệng, rồi chầm chậm nuốt nước bọt xuống.

Dưỡng thận là một khâu cực kỳ trọng yếu trong dưỡng sinh. Một số động tác hàng ngày đơn giản, có thể đạt được hiệu quả dưỡng thận.(Ảnh: Bản vẽ của Akina/ Epoch Times)

Khi ăn bất cứ cái gì thì nhớ nhai kỹ nuốt chậm, một miếng thức ăn ở trong miệng phải nhai kỹ ít nhất 30 lần trở lên mới nuốt xuống, như vậy có thể trợ giúp tiêu hóa, bổ dưỡng thận tinh.

2. Phương pháp hít thở bằng bụng

Thận chủ nạp khí, là chỉ thận hấp thu thâu nạp không khí sạch tự nhiên do phổi hít vào, duy trì độ sâu của hơi thở và ngăn chặn quá trình thở hời hợt. Xét theo đường đi từ Kinh Túc Thiếu Âm Thận, đi thẳng một đường, từ thận ngược lên, xuyên qua gan và cơ hoành, đi vào phổi, xuôi theo cổ họng, đến hai bên lưỡi. Vậy nên, thông qua phương pháp hít thở bằng bụng, có thể làm cho khí phổi từ trên xuống dưới đến thận để bổ dưỡng thận khí. Điều này cũng phù hợp với khái niệm phổi kim sinh thận thủy trong ngũ hành.

Trình tự thao tác của phương pháp hít thở bằng bụng như sau:

① Hít thở phải sâu dài mà từ từ.

② Dùng mũi hít khí vào, dùng miệng thở khí ra.

③ Mỗi lần hít thở trong khoảng 15 giây. Tức là hít vào một hơi thật dài (căng bụng lên) khoảng 3 – 5 giây, giữ nín thở 1 giây; sau đó thở ra chầm chậm (xẹp bụng xuống)  khoảng 3 – 5 giây, giữ nín thở 1 giây.

④ Mỗi lần làm 5 – 15 phút, có thể làm trong 30 phút là tốt nhất.

Người khỏe mạnh, có thể kéo dài thời gian nín thở, tiết tấu hít thở cố gắng hết sức càng chậm càng sâu. Người có sức khỏe kém, có thể không nín thở, nhưng phải hít khí vào đủ, khi thở ra phải hết triệt để. Mỗi ngày luyện tập 1 – 2 lần. Trong quá trình hít thở nếu trong miệng có nước bọt tràn ra (tức là kim tân ngọc dịch), có thể nuốt xuống từ từ, để bổ thận tinh (nước bọt là dịch thận).

Động tác dưỡng thận thứ hai: Phương pháp hít thở bằng bụng. (Ảnh: Bản vẽ của Akina/ Epoch Times)

3. Xoa huyệt Dũng Tuyền

Trong cuốn “Thọ Thân Dưỡng Lão Tân Thư” có ghi lại phương pháp xoa huyệt Dũng Tuyền và nghiệm chứng công hiệu của nó như sau:

“Huyệt ở phía trên lòng bàn chân, thấp khí đều thâm nhập vào từ đây. Ngày đêm, thường để hai bàn chân trần, dùng một tay nắm ngón chân, một tay xoa, xoa một lúc lâu, cảm thấy lòng bàn chân nóng, thì cầm ngón chân hơi chuyển động, mệt mỏi thì tạm thời nghỉ ngơi. Hoặc nhờ người khác xoa cũng được, nhưng không tốt bằng tự bản thân xoa”.

Huyệt Dũng Tuyền ở lòng bàn chân, ở chỗ lõm sâu nhất khi co bàn chân, cuộn ngón chân lại. (Còn một cách khác để xác định huyệt Dũng Tuyền là, đưa bàn chân ra phía trước, chỗ lõm xuống ở lòng bàn chân, nơi 1/3 đường nối liền từ giữa kẻ chân ngón thứ hai và ngón thứ ba với điểm cuối gót chân).

Vào thời Tống Ninh Tông, ông Trần Thư Lâm, người phụ trách kho thuốc thuộc ti Thành Đô, từng nói rằng: “Cha tôi mỗi đêm thường xoa đến mấy nghìn lần, cho nên đến lúc tuổi già đi lại nhẹ nhàng. Khi lười, mỗi lúc nằm chỉ lệnh cho người khác xoa đến khi ngủ thì ngừng, cũng cảm thấy khỏe khoắn”.

“Một người dân là Trịnh Ngạn Hòa từ Thái phủ đến kho lúa Giang Đông, chân yếu không thể quỳ lạy, người quản lý chính là Hoàng Kế Đạo dạy dùng cách này, hơn một tháng thì có thể quỳ gối bái lạy. Đinh Thiệu Châu người vùng Tráp Khê bị bệnh ở chân, nửa năm không thể xuống giường, gặp được một vị đạo nhân, cũng dạy cách này, không lâu sau thì hết bệnh. Nay dùng bút và sách này, nói cho những người bị bệnh biết, chớ cho là nhỏ mà bổ lắm thay”.

Động tác dưỡng thận thứ ba: Xoa huyệt Dũng Tuyền (Ảnh: Bản vẽ của Akina/ Epoch Times)

4. Xoa huyệt Thận Du

Huyệt Thận Du nằm ở khu xương sống, dưới chỗ gồ lên của xương sống thắt lưng thứ hai, cách đường chính giữa phía sau lưng 1.5 tấc. (Còn một cách khác xác định vị trí huyệt: ở mặt sau thắt lưng, vị trí nằm hai bên cách huyệt Mệnh Môn sau rốn độ rộng hai ngón tay).

Huyệt Thận Du chủ trị bộ phận tai, các chứng bệnh tạng thận; thường dùng trị bệnh ù tai, điếc tai; lưng đau, chân lạnh, tiểu són, tiểu dắt, di tinh, liệt dương, tiết sớm; kinh nguyệt không đều, bệnh khí hư, hiếm muộn.

Cách xoa huyệt Thận Du: Lòng hai bàn tay đặt tại hai huyệt Thận Du ở phần eo lưng, xoa bóp trên dưới 36 lần, một ngày có thể thực hiện nhiều lần.

Động tác dưỡng thận thứ tư: Xoa huyệt Thận du (Ảnh: Bản vẽ của Akina/ Epoch Times)

Tác giả: Ngô Quốc Bân (Wu Guobin, Giám đốc Phòng khám Trung y Tâm Y Đường, Đài Loan)
Lý Thanh Phong biên tập
Tiểu Minh biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ Epoch Times Hoa ngữ

Xem thêm: