Chữ Hán và thư pháp có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời, chữ Hán bởi vì thư pháp mà hiển lộ rực rỡ, thông qua thư pháp mà biểu hiện vận khí ở bên trong, diễn biến kiểu chữ trong thư pháp cũng cực kì lớn. Thầy dạy thư pháp Hoàng Cảnh Hành lấy diễn biến  của các thể chữ làm trục, chia sẻ nguồn gốc nghệ thuật thư pháp. Chuyên mục hoàn toàn mới “Văn hóa học đường” sẽ ra số đặc biệt về thư pháp có sự tham gia của thầy Cảnh Hành, với lời lẽ dễ hiểu đi sâu chia sẻ về nguồn gốc, loại hình, cách viết thư pháp và những câu chuyện nhỏ. 

bàn về thư pháp
Thầy dạy thư pháp Hoàng Cảnh Hành viết mẫu thư pháp. (Ảnh: Trần Trọng Minh/Epoch Times)

Giáp cốt văn trước mắt được xem là văn tự tạo thành hệ thống sớm nhất được phát hiện ở Trung Quốc, trong đó có những câu chuyện nhỏ.

chữ khải văn
Chữ [Văn] rồi chữ [Nghiêu] được phát hiện trong di chỉ Đào Tự, hoặc đem thời gian xuất hiện văn tự đẩy lùi về trước. (Ảnh: Bách khoa nền tảng)

Từ phù hiệu diễn biến thành văn tự

Thư pháp rốt cuộc là như thế nào? Thư pháp ban sơ kỳ thực chỉ là một số phù hiệu. Tin rằng rất nhiều người đều biết, thư pháp là do hình vẽ biến thành văn tự, vậy những hình vẽ này thật ra nhìn thấy ở nơi nào? Thuở đầu chính là nhìn thấy ở một số hang đá. Có thể là hình vẽ một con voi mamut, hoặc là một người đang đuổi theo một con voi mamut, rồi sau đó mới mọi người ghi lại một vài phù hiệu, nắm được bao nhiêu voi mamut. Vậy đến lúc nào bắt đầu có văn tự? Vấn đề này kỳ thực  hiện tại có rất nhiều người tìm kiếm nhưng chưa có đáp án.

Mà đáp án gần đây nhất, là ở An Dương Hà Nam vào 3,500 năm trước, nơi này là Ân Khư – kinh đô nhà Thương, đào được giáp cốt văn tạm thời là văn tự cổ xưa nhất mà hiện nay tìm thấy. Trong một số văn hóa khảo cổ khác nhau, đều có thể tìm được một số văn tự so với giáp cốt văn càng cổ xưa hơn, như trong di chỉ Đào Tự trước sau 4,200 năm, ở một mảnh gốm vụn không đáng chú ý bên trên vậy mà nhìn thấy viết một chữ “Văn”. Mọi người suy đoán, trước giáp cốt văn hẳn là có một số phù hiệu chữ chưa thành thục, nhưng những chữ kia hiện tại kỳ thật không có hệ thống, khả năng chỉ là hình thức phù hiệu, cũng đều có thể là sự phân nhánh khác biệt của giáp cốt văn.

chữ giáp cốt
Giáp cốt văn bởi vì khắc trên yếm rùa (giáp) và xương thú (cốt) nên có tên như vậy, khối văn tự trên giáp cốt càng lúc bị thoa lên chu sa. (Ảnh: Bách khoa nền tảng)

Tác dụng của giáp cốt văn

Giáp cốt văn kỳ thật giảng như thế nào? Giáp cốt văn phần nhiều là khắc vào trên một khối mai rùa đen, cũng có khắc trên xương trâu, đa số là dùng để xem bói cầu thần. Người thời cổ đại có chuyện gì đều sẽ hỏi trời, đầu tiên đem nội dung muốn hỏi, khắc vào trên khối giáp cốt kia. Ví như, một vị vua triều Thương hỏi: Ta đau răng, rốt cục là tại sao? Làm như vậy, đúng không? Thế là ông ta liền đem vấn đề này khắc vào trên giáp cốt, cầm giáp cốt đi đốt, sau khi đốt xong liền dựa vào vết rạn nứt kia mà xem tốt lành hay xấu gở.

Giáp cốt cũng là bằng chứng quan trọng ghi chép sự kiện, như tiến đánh nước này, chiến lợi phẩm sau khi thắng lợi, đều ghi lên giáp cốt, bởi vậy giáp cốt là thứ rất quan trọng lúc nghiên cứu lịch sử triều Thương.

bàn về thư pháp
Hiện còn nhiều nhất là kim văn, khí cụ bằng đồng xanh thời Tây Chu “Mao công đỉnh” có đến 500 chữ kim văn. (Ảnh: Bách khoa nền tảng)

Văn tự khắc trên khí cụ bằng đồng xanh — Kim văn

Thời Thương, ngoài giáp cốt văn, còn có một loại văn tự khắc trên khí cụ bằng đồng xanh. Những năm cuối triều Thương xuất hiện đỉnh văn, loại văn tự này có ở trên khí cụ bằng đồng xanh, có bao nhiêu tên gọi khác biệt, có thể gọi là chung đỉnh văn hoặc là kim văn.

Kim văn có ở thời Tây Chu là nhiều nhất, khảo cổ về giáp cốt văn triều Thương phát hiện nhiều nhất chỉ là mười mấy chữ thôi, đến thời Tây Chu, chung đỉnh có độ dài dài nhất là 500 chữ.

Nội dung kim văn phần lớn đều là giảng một chút việc vinh quang, như hôm nay vua gọi người nào đó đi làm một việc gì, đạt được phong thưởng, thì phải khắc vào đỉnh, để con cháu ghi nhớ. Hoặc liên quan đến một số chuyện mua bán lớn, ví như hôm nay mua miếng ruộng đất này, dùng hết bao nhiêu vỏ sò, tiền tệ trước kia ban đầu là vỏ sò, thì sẽ viết dùng bao nhiêu vỏ sò đi mua bán. Chỉ có việc trọng đại mới có thể xuất hiện trên chung đỉnh.

Liên quan đến nguồn gốc kim văn, còn có một truyền thuyết khác. Nghe nói đây là phát minh của một thái sử (là người bên cạnh giúp Hoàng đế ghi chép một số hành vi, lịch sử) thời Chu Tuyên Vương, tên quan thái sử này là “Trứu”, cho nên kim văn cũng được gọi là “Trứu văn”.

Giới thiệu vắn tắt về giáp cốt văn và kim văn đến đây, lần sau sẽ nghiên cứu thảo luận sự biến hóa của một số văn tự thời Xuân Thu Chiến Quốc.◇

bàn về thư pháp
Thầy dạy thư pháp Hoàng Cảnh Hành viết mẫu kiểu giáp cốt văn chữ “Hương”. (Ảnh: Trần Trọng Minh/Epoch Times)

bàn về thư pháp
Thầy dạy thư pháp Hoàng Cảnh Hành viết mẫu kiểu kim văn chữ “Hương”. (Ảnh: Trần Trọng Minh/Epoch Times)

Do Văn Tăng Liên thực hiện
Toan Đinh biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc tại Epoch Times Hoa ngữ 

Xem thêm:

Với 22 ngôn ngữ, Epoch Times là một kênh truyền thông Mỹ độc lập theo nguyên tắc Sự Thật và Truyền Thống. Thông qua những bài báo trung thực, cung cấp sự thật và làm sáng tỏ những vấn đề xã hội quan trọng, Epoch Times mong muốn gửi đến Quý độc giả những giá trị nhân văn của sự chính trực, lương thiện, lòng trắc ẩn, hay những bài học quý giá từ lịch sử, đồng thời tôn vinh các giá trị phổ quát của nhân loại.

Rất mong nhận được sự ủng hộ và đồng hành của Quý độc giả thông qua việc chia sẻ, lan tỏa các bài viết đến với cộng đồng. Epoch Times tin rằng đây là cách để chúng ta cùng kiến tạo tương lai, đi tới một đại kỷ nguyên mới huy hoàng và đẹp đẽ hơn.


Mọi ý kiến và đóng góp bài vở, xin vui lòng gửi về: [email protected]