Internet đã khai mở kiến thức nhân loại. Chưa bao giờ việc học lại dễ dàng đến thế. Tất nhiên, nó cũng khiến chúng ta xao nhãng và tạo ra môi trường thuận lợi cho những trò lừa đảo và thông tin sai lệch, nhưng nếu Internet được đánh đổi bởi một điều gì đó, thì đó chính là sự khai phóng giáo dục.

Wi-Fi trong các trường học tác hại lớn với trẻ em
Trẻ em đang được hướng dẫn dùng các thiết bị điện tử giáo dục trong môi trường bão hòa với bức xạ nguy hiểm từ các mạng Wi-Fi thương mại. (Ảnh Monkey Business Images/Shutterstock)

Khi truy cập vào đại dương thông tin mênh mông này, chúng ta có hai lựa chọn cơ bản: Có dây hoặc Wi-Fi. Phần lớn các trường học đã bị trói buộc vào cuộc cách mạng không dây. Nguyên nhân rất đơn giản. So với internet có dây thì internet không dây đơn giản hơn, rẻ hơn và cài đặt nhanh hơn đối với các trường học.

Ngày nay, học sinh thay thế sách vở bằng máy tính, điện thoại, iPad và các thiết bị “thông minh” kết nối sẵn vào một cơ sở mạng không dây mạnh, cho phép các em truy cập mạng hầu như ở bất cứ nơi nào trong trường. 

Thế nhưng mạng lưới không dây ấy lại có một nhược điểm nghiêm trọng. Các tiến sĩ và nhà khoa học cho rằng học sinh và giáo viên ở những trường học này đang mạo hiểm với sức khỏe của mình.

Các nguy cơ bức xạ

Tiến sĩ Martin Pall, Giáo sư Danh dự về hóa sinh và khoa học y khoa cơ bản tại Đại học tiểu bang Washington đã đưa ra một trường hợp nghiêm trọng về những nguy hiểm liên quan trong bài viết của ông có tiêu đề “Wi-Fi là mối đe dọa quan trọng đến sức khỏe con người”, được công bố hồi tháng 7/2018 trong tập san vấn đề về nghiên cứu môi trường.

Ông Pall cho biết, “Việc lắp đặt Wi-Fi vào các trường học trên toàn quốc có thể là mối đe dọa ở mức cao đối với sức khỏe của con cái chúng ta cũng như các thầy cô giáo và bất kỳ giáo viên đang mang thai.”

Bởi vì Wi-Fi xuất hiện khắp nơi từ tư gia cho đến những nơi công cộng, sự cảnh báo của ông Pall dường như khó mà làm rõ được. Và tất nhiên dẫn chứng của ông cũng thuyết phục: 23 nghiên cứu khoa học có kiểm soát chứng minh nhiều ảnh hưởng có hại của việc tiếp xúc với bức xạ Wi-Fi. Và đó chỉ là một phần nổi của tảng băng, có hàng tá nghiên cứu về những nguy hại của Wi-Fi vẫn chưa được đề cập trong bài viết.

Bức xạ không dây đã trở nên phổ biến cho dù đã có dẫn chứng thuyết phục về tác hại của nó, và hàng ngàn nghiên cứu từ vài thập kỷ trước với những dẫn chứng cho vấn đề sức khỏe liên quan đến việc tiếp xúc này. Một vài bằng chứng thuyết phục nhất được đưa ra vào năm ngoái trong báo cáo cuối cùng của một nghiên cứu kéo dài 19 năm trị giá 30 triệu USD do Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ tài trợ. Nó đã được thực hiện bởi Chương trình độc chất học quốc gia (NTP), cơ quan liên bang được giao nhiệm vụ kiểm tra các chất độc và sẽ đưa ra câu trả lời cuối cùng cho việc liệu bức xạ không dây có gây nguy hiểm hay không. Nó đưa ra một bằng chứng rõ ràng về bệnh ung thư và tổn thương DNA có liên quan đến việc sử dụng điện thoại di động. 

Rủi ro về việc tập trung

Các chuyên gia cho rằng, các trường học đặc biệt đáng lo ngại bởi vì đó chính là nơi tập trung cao độ của bức xạ vô tuyến đã được tìm thấy hiện nay. Các trường học đã sử dụng hệ thống Wi-Fi mạnh hơn so với các hệ thống Wi-Fi phổ biến ở nhà quý vị hoặc ở cửa tiệm cà phê. Những hệ thống thương mại này sử dụng vài bộ định tuyến hoặc “các điểm truy cập” xuyên suốt lớp học, thường là trần nhà trên đầu các học sinh. Bây giờ lại thêm vào bức xạ phát ra từ tất cả thiết bị không dây hoạt động trên từng em học sinh thì bạn sẽ thấy các em có đến 7 giờ đồng hồ một ngày chìm ngập trong bức xạ điện từ dày đặc này.

Tệ hơn nữa là những đứa trẻ ở trong vùng tập trung đáng kể bức xạ vô tuyến này lại càng dễ tổn thương hơn. So với người lớn thì trẻ em nhỏ hơn với sọ não nhỏ và mỏng hơn. Vì thế bức xạ dễ thâm nhập vào và lan rộng hơn trong não. Vấn đề nữa là hệ thống miễn dịch và thần kinh của trẻ em vẫn còn phát triển. Ngoài ra, tế bào của trẻ em phân tách nhanh hơn, gây ra các rủi ro đột biến có thể dẫn đến ung thư.

Theo ông Pall, những nhân tố này khiến trẻ em dễ bị tổn thương hơn với các căn bệnh liên quan đến bức xạ vô tuyến như: Mất cân bằng oxy hóa (có thể dẫn tới tình trạng ung thư và không ung thư, cũng như tổn thương DNA), tinh trùng, tổn thương tinh hoàn, ảnh hưởng đến tâm thần kinh, chết tế bào, thay đổi hệ thống nội tiết và dư thừa canxi.

Chứng cứ về bệnh tật

Các quá trình bệnh này không chỉ là lý thuyết. Các nghiên cứu dịch tễ học do Tiến sĩ Lennart Hardell thực hiện, một bác sĩ chuyên khoa ung thư tại Bệnh viện Đại học Orebro, Thụy Điển, cho thấy trẻ em tiếp xúc với bức xạ này có nhiều khả năng mắc các bệnh ung thư và phát triển bệnh nhanh hơn.

Các bác sĩ và nhà khoa học khác nói rằng phơi nhiễm [bức xạ] có thể là một yếu tố đáng kể góp phần vào tỷ lệ gia tăng các bệnh khác ở trẻ em. Tiến sĩ Hugh Taylor, giáo sư và chủ nhiệm khoa sản, phụ khoa và khoa học sinh sản tại Đại học Yale, đã chỉ ra rằng việc thai nhi tiếp xúc với bức xạ không dây có ảnh hưởng đến sự phát triển thần kinh và hành vi, đồng thời có thể dẫn đến chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), chứng bệnh này đã tăng gấp đôi trong 10 năm qua.

Tiến sĩ Martha Herbert, giáo sư Đại học Y khoa Harvard và là một nhà thần kinh học nhi khoa tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts đưa ra một lập luận thuyết phục rằng sự gia tăng chứng rối loạn phổ tự kỷ cũng có thể liên quan đến việc chúng ta tiếp xúc với bức xạ không dây.

Báo cáo dài 60 trang của bà Herbert từ năm 2012 không cung cấp bằng chứng về nguyên nhân, nhưng nó cho thấy một số điểm tương đồng giữa các triệu chứng được biết là xảy ra với bức xạ không dây và các biểu hiện sinh học trong bệnh tự kỷ, chẳng hạn như căng thẳng tế bào, tổn thương mô, phân bố sai protein và tổn thương màng tế bào.

Bà Herbert mô tả chứng tự kỷ, không phải là tình trạng của một bộ não bị hỏng, mà là một bộ não khó tự điều chỉnh. Và bà tin rằng nếu một bộ não như vậy bị mắc kẹt trong một không gian với toàn các bức xạ không dây, nó sẽ phải đối mặt với yếu tố gây rối loạn, khiến cho các hành vi và hoạt động sinh học càng khó cân bằng hơn.

Mặc dù não của trẻ em tự kỷ có thể dễ bị tổn thương hơn do vi bức xạ, bà Herbert cho rằng mọi bộ não đều chịu ảnh hưởng của nó.

Bà Herbert nói, “Tôi thực sự quan tâm đến bộ não của con người. Đây không phải là trò đùa khi để những bức xạ này đi vào cấu trúc dạng tinh thể gel, mỏng manh nặng 3 pound trong đầu chúng ta vốn tạo ra bộ não mỹ hảo này. Bộ não sẽ không chịu được mức độ bức xạ này.”

Thần kinh điện từ

Bà Herbert giải thích rằng, giống như các thiết bị không dây, não của chúng ta giao tiếp bằng tín hiệu điện từ. Trên thực tế, vì các thiết bị của chúng ta trở nên nhạy hơn nên các nhà khoa học đã phát hiện rằng mỗi tế bào trong cơ thể chúng ta cũng sử dụng tín hiệu điện từ.

Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới không dây, là nơi mà hầu hết tất cả chúng ta đều đi lại trong trường bức xạ điện từ. Bà Herbert tin rằng có đủ cơ sở khoa học để lập luận rằng ảnh hưởng này có thể là một yếu tố quan trọng góp phần làm suy giảm chức năng điện-hóa tối ưu của cơ thể chúng ta, do đó làm ảnh hưởng đến bộ não và hệ thần kinh của chúng ta.

Tự kỷ từng được coi là một bất thường di truyền. Nhưng khi hiểu biết về tình trạng này ngày càng tăng, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra các bối cảnh phức tạp hơn, các ảnh hưởng từ môi trường cho thấy tác động lên sự biểu hiện gen.

Điều này có nghĩa là thay vì tìm một lý do gắn chặt với chứng bệnh đang phát triển nhanh này (ước tính mới nhất từ Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh là cứ 40 trẻ em thì có một trẻ em mắc chứng tự kỷ, tăng từ 1/166 trẻ vào năm 2005), thì có khả năng do nhiều yếu tố khác nữa. Ví dụ, các hóa chất độc hại từ lâu đã được chứng minh là có tác động đến sự phát triển não bộ của thai nhi.

Nhưng bà Herbert lập luận rằng, do bản chất điện tự nhiên của cơ thể chúng ta, bức xạ không dây có thể tạo ra nhiều sự xáo trộn hơn là các hóa chất độc hại.

Bà Herbert nói, “Khi quý vị tiếp xúc với chất độc, nó có thể ảnh hưởng đến não, nhưng để làm được điều đó, nó phải qua con đường trao đổi chất mới có thể ảnh hưởng đến điện từ. Nhưng khi quý vị tiếp xúc với bức xạ điện từ, nó là một phát súng nhắm thẳng. Nó là cùng một ngôn ngữ, vì vậy nó có thể [gây tác hại] tức thời hơn.”

Bệnh tật ở các trường học

Cô Dafna Tachover là một cựu nhân viên viễn thông đã trở thành luật sư bào chữa cho những người bị tổn hại bởi bức xạ không dây. Vụ kiện lên Tòa án Tối cao của cô ở Israel đã dẫn đến các hạn chế đầu tiên về Wi-Fi ở các trường học trên toàn thế giới. Cô Tachover đã đưa ra bằng chứng về 200 trẻ em bị bệnh do sóng Wi-Fi chỉ trong sáu trường học.

Hiện tại ở Hoa Kỳ, cô Tachover cho biết mỗi tuần cô đều được một số phụ huynh có trẻ em mắc bệnh từ hệ thống không dây của trường liên lạc. Cô cho biết đa số các triệu chứng phổ biến nhất bao gồm đau đầu, tăng nhạy cảm với tiếng ồn, chảy máu mũi, các vấn đề về tập trung và trí nhớ, buồn nôn, kiệt sức và tăng động.

Cô Tachover nói, “Không may là những tác hại này không phải là dự báo mà là hiện hữu, và ở quy mô dịch bệnh.”

Căn bệnh cấp tính hoặc mãn tính đối với bức xạ không dây được gọi là bệnh nhạy cảm điện từ. Đó là căn bệnh tương tự mà Hải quân Hoa Kỳ gọi là “bệnh vi sóng”, những người lính làm việc với các công nghệ như ra-đa trong một thời gian dài cũng xuất hiện triệu chứng tương tự. Căn bệnh này được đặt tên cho các tần số vi sóng hỗ trợ công nghệ không dây. Những người mắc bệnh vi sóng không thể ở trong môi trường có bức xạ không dây mà không có các triệu chứng đau đớn và đôi khi là suy nhược.

Một đứa trẻ mà cô Tachover đang làm việc cùng là một bé gái 13 tuổi đến từ Oregon mà bàn học ngay dưới bộ định tuyến Wi-Fi của lớp học. Sau khi cô bé mắc chứng bệnh vi sóng, cha mẹ cô đã phải đăng ký cho cô vào một trường tư thục Waldorf vì đây là một trong số ít trường không sử dụng Wi-Fi.

Trong một số trường hợp, cha mẹ buộc phải cho con học tại nhà vì chúng không vào được trường học nếu không có  Wi-Fi. Trong những trường hợp khác, những đứa trẻ bị bệnh bị bắt buộc làm như vậy.

Cô Tachover cho biết một phụ huynh có hai con trai mắc chứng bệnh vi sóng. Người mẹ này đã thúc giục trường học của các con trai mình trang bị lớp học với internet có dây cứng và thậm chí đề nghị trả tiền, nhưng nhà trường đã từ chối. Do đó, các con của cô chỉ có thể đến trường vài giờ mỗi tuần.

Cô Tachover nói, “Khi ở trong môi trường Wi-Fi, các em bị đau đầu, khó tập trung, phát ban và tăng động.”

Rủi ro đối với giáo viên

Bệnh vi sóng có thể ảnh hưởng đến những giáo viên làm việc dưới Wi-Fi. Cô Laurie Brown, một giáo viên tại học khu Los Angeles (LAUSD) cho biết cô không hề biết gì về những ảnh hưởng đến sức khỏe từ sóng không dây cho tới khi trường của cô lắp đặt hệ thống Wi-Fi cấp thương mại hồi tháng 4/2015. Bây giờ, cô nói rằng cô không thể phớt lờ những thiệt hại mà thứ công nghệ này gây nên.

“Trước đó chúng tôi vẫn sử dụng Wi-Fi, nhưng hệ thống nâng cấp lần này có hai điểm kết nối trong từng lớp học, tổng cộng toàn trường là 190 điểm kết nối, tính luôn cả những hệ thống dự phòng thêm khi mất kết nối,” Cô Brown chia sẻ. “Tất cả những thứ này là dành cho việc kiểm tra hệ thống, và dạy học trong thế kỷ 21.”

Trong kỳ kiểm tra cốt lõi chung, mỗi học sinh của cô Brown sử dụng máy tính xách tay không dây (Chromebook) để kết nối vào hệ thống mới này. Chỉ sau hai giờ đồng hồ ở dưới môi trường công nghệ cao này, cô Brown đã bắt đầu cảm nhận được một vài triệu chứng: Da của cô bị ngứa ran và bỏng rát, có vấn đề hô hấp, và nhịp tim tăng lên. Các mắt cá của cô bắt đầu ngứa và mũi bắt đầu sưng lên.

Các triệu chứng ngày càng trở nên tồi tệ hơn và chẳng bao lâu nữa cô Brown không thể chịu đựng nổi suốt một ngày. Trước khi có hệ thống Wi-Fi mới, cô Brown hiếm khi bị bệnh và đã tiết kiệm được gần 800 giờ nghỉ phép ốm. Nhưng sau khi lắp đặt những thiết bị mới này, cô bị bệnh liên miên. Đến cuối năm học, cô Brown đã phải nghỉ ít nhất 2 ngày mỗi tuần.

Cô nói, “Khi cảm thấy không khỏe, tôi quay trở về nhà và cảm thấy rất tệ. Tôi từng là một người không bao giờ bị đau đầu, và giờ tôi đã gặp phải những cơn đau đầu kỳ lạ này.”

Cô Brown biết rằng có ít nhất 10 giáo viên và nhân viên phàn nàn về những triệu chứng mà sóng Wi-Fi của trường gây nên cho họ. Hai trong số đó đã nghỉ việc, một người đến từ trường khác đã từ chức, và ít nhất ba người (gồm cả cô Brown) đã nộp đơn xin bồi thường thương tích cho người lao động với LAUSD. Tất cả các đơn xin bồi thường ban đầu đều bị từ chối.

Cô Brown hiện đang nghỉ phép, nhưng cô vẫn mong muốn trở lại cuộc sống như trước đây. Hiện tại, chỉ cần ai đó sử dụng điện thoại di động gần cô, các triệu chứng viêm cũng như các triệu chứng suy nhược khác của cô sẽ nhanh chóng xuất hiện trở lại.

“Điều này thật nặng nề và đáng buồn, nó lấy đi niềm vui trong cuộc sống và phong cách sống của chúng ta,” cô nói. “Tôi là một người dễ tính, thích làm hài lòng người khác, và thoải mái. Tôi từng không phải là người đòi hỏi cao. Nó khiến cho da tôi cảm thấy khó chịu và như thể là tôi đang làm phiền người khác.”

Đối với những trường học sẵn sàng điều chỉnh, thì cuộc sống [nơi đó] đã được thay đổi. Kháng nghị thông qua Đạo luật Người khuyết tật Hoa Kỳ đã khiến một số trường loại bỏ bộ định tuyến Wi-Fi trong các lớp học có những người bị bệnh vi sóng, thậm chí là mở rộng việc loại bỏ bộ định tuyến ở các lớp gần đó khi họ vẫn còn bị ảnh hưởng.

Giáo viên Sheila Reavill đã mắc phải bệnh vi sóng nhưng cô thuyết phục trường mình lắp dây cứng cho truy cập internet của họ và kết nối máy tính xách tay với bộ chuyển đổi. Không còn sóng Wi-Fi hay Bluetooth trong lớp học của Reavill, và những đứa trẻ mang theo điện thoại phải tắt nguồn điện thoại khi chúng ở trong lớp.

“Cô ấy nói rằng cô không phải là người duy nhất trong lớp học cảm thấy mình tốt hơn, mà những học sinh của cô cũng điềm tĩnh và tập trung hơn,” cô Tachover cho biết.

Các chuyên gia thậm chí đã thấy được sự nguy hiểm trong hệ thống Wi-Fi nâng cấp trước khi họ lắp đặt chúng. Năm 2013, bà Herbert viết một thư cảnh báo đến LAUSD, trong đó dẫn chứng hàng nghìn bài báo được trong vài thập kỷ, ghi lại các tác động xấu đến sức khoẻ và hệ thần kinh gây ra với sóng điện từ và bức xạ sóng vô tuyến (EMF/RFR).

“EMF/RFR từ Wi-Fi và các trạm phát sóng di động có thể gây ảnh hưởng vô tổ chức đến khả năng học hỏi và ghi nhớ, và cũng có thể làm mất ổn định chức năng miễn dịch và trao đổi chất,” bà Herbert viết. “Điều này sẽ làm cho trẻ em khó học hơn, đặc biệt là những đứa trẻ có vấn đề từ trước.”

Lá thư trở nên nổi tiếng, nhưng ban điều hành các trường công thì chẳng mảy may để tâm đến. 

“Quý vị có biết ai đã phản ứng lại không? Là các nhân viên cứu hỏa,” bà Herbert nói. “Họ đặt những trạm phát sóng di động này ngay sau lưng trạm cứu hỏa một cách vô ích. Và đoán xem? Tất cả lính cứu hỏa đều mắc bệnh.”

Thúc đẩy sự thay đổi

Ngày càng nhiều người nhận thức được nguy hiểm của bức xạ không dây và Wi-Fi trong trường học, các nỗ lực đang từ từ xuất hiện từ các công đoàn giáo viên, tổ chức phụ huynh và nhóm bác sĩ để giải quyết vấn đề. 

Một giải pháp được đề xuất rộng rãi cho các trường học là lắp đặt hệ thống có dây. Điều này sẽ cho phép các học sinh có một hệ thống internet tốc độ cao ổn định mà không có bức xạ vi sóng. Chi phí chỉ cao hơn hệ thống không dây một chút.

Lắp đặt hệ thống có dây đồng nghĩa là chi phí trả trước sẽ nhiều hơn, nó có thể giúp các trường học tiết kiệm được nhiều tiền cho một chặng đường dài, cũng như việc bảo đảm sức khỏe của những trẻ em học tập tại đây. Cô Tachover nói rằng hầu hết các trường đều không được bảo hiểm cho những ảnh hưởng sức khỏe liên quan đến bức xạ không dây bởi vì hầu hết các công ty bảo hiểm đã có được một bài học từ thuốc lá và amiăng nên họ đã đưa ra một loại trừ với [các chứng bệnh do] sóng không dây.

Một số thay đổi có thể đến dưới dạng luật mới. Tại Massachusetts, bảy dự luật gần đây đã nhắm vào vấn đề công nghệ không dây trong một số trường học.

Bà Deb Mayer điều hành hạt Oregon của tổ chức Những bậc phụ huynh trên khắp nước Mỹ (PAA). Bà nói rằng tổ chức của bà đã đưa ba dự luật vào cơ quan lập pháp của tiểu bang nhắm đến việc trẻ em ngày càng tiếp xúc với bức xạ không dây.

Bà Mayer nói, “Chúng tôi không chống lại công nghệ. Chúng tôi chống lại cách sử dụng không an toàn và vô trách nhiệm.”

Một dự luật cho phép những bậc phụ huynh nghi ngờ Wi-Fi có thể chọn giải pháp thay thế cho con của họ. Dự luật cũng kêu gọi trẻ em giải lao để chúng có cơ hội vận động thể chất trong những khoảng thời gian còn lại trong ngày.

Dự luật thứ hai tập trung vào nâng cao hiểu biết cộng đồng về những ảnh hưởng sinh học từ sóng không dây. Nó yêu cầu các trường công lập và tư thục truyền tải các thông tin về những rủi ro tiềm ẩn của công nghệ mạng không dây lên các nhân viên, học sinh và cha mẹ hay người giám hộ. Nó cũng sẽ yêu cầu Cơ quan Y tế của tiểu bang kiểm tra chéo các nghiên cứu được tài trợ độc lập về những ảnh hưởng của việc tiếp xúc với bức xạ vi sóng trong trường học và môi trường tương tự, đặc biệt là sự phơi nhiễm đến từ việc sử dụng công nghệ mạng không dây. Sau đó, nó kêu gọi Cơ quan Y tế tạo ra các hướng dẫn dựa trên đánh giá này.

Một dự luật mà bà Mayer tin rằng có khả năng cao được thông qua. Nó kêu gọi các nhà máy sản xuất không dây phải ghi chú lớn, có một số nhà máy đã làm trước đó. Dự luật yêu cầu phải có những lời khuyên và nhãn cảnh báo rõ ràng để người tiêu dùng coi trọng sự an toàn hơn. 

Nhìn chung, thách thức lớn nhất chính là làm cho các trường học, nhà lập pháp và công chúng nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm túc.

“Việc khiến mọi người tin những gì chúng tôi nói hoàn toàn sự thật là khó khăn, bởi vì họ không muốn thừa nhận rằng có những nhược điểm trong thiết bị của họ,” bà Mayer chia sẻ. “Và họ đặc biệt không muốn nghĩ rằng việc đưa thiết bị cho những đứa trẻ là việc làm xấu.”

Bà Herbert nói một lý do khác khiến mọi người có thể chống lại việc nhìn nhận vấn đề là tất cả bức xạ không dây này có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá tình hình của chúng ta.

“Về bản chất, khả năng phán đoán của quý vị mất đi khi chức năng não của quý vị bị thay đổi theo một cách nào đó. Quý vị có thể bỏ lỡ mọi thứ như mất khả năng phân biệt, hoặc vô tổ chức theo cách mà quý vị không nhận ra cho tới khi quý vị thoát ra khỏi hoàn cảnh đó. Có thể quý vị sẽ không bao giờ thoát khỏi nó,” bà Herbert cho biết. “Chỉ là một điều gì đó để chiêm nghiệm khi chúng ta thử và xem xét mức độ tiếp xúc ngày càng tăng của chúng ta với sóng điện từ.”

Conan Milner
Anh Đặng biên dịch

Với 22 ngôn ngữ, Epoch Times là một kênh truyền thông Mỹ độc lập theo nguyên tắc Sự Thật và Truyền Thống. Thông qua những bài báo trung thực, cung cấp sự thật và làm sáng tỏ những vấn đề xã hội quan trọng, Epoch Times mong muốn gửi đến Quý độc giả những giá trị nhân văn của sự chính trực, lương thiện, lòng trắc ẩn, hay những bài học quý giá từ lịch sử, đồng thời tôn vinh các giá trị phổ quát của nhân loại.

Rất mong nhận được sự ủng hộ và đồng hành của Quý độc giả thông qua việc chia sẻ, lan tỏa các bài viết đến với cộng đồng. Epoch Times tin rằng đây là cách để chúng ta cùng kiến tạo tương lai, đi tới một đại kỷ nguyên mới huy hoàng và đẹp đẽ hơn.


Mọi ý kiến và đóng góp bài vở, xin vui lòng gửi về: [email protected]