Nhân gian có câu nói: “Nữ mệnh hung ắt khắc chồng, nam mệnh hung ắt khắc vợ, cha mệnh hung ắc khắc con, con mệnh hung ắt khắc cha mẹ”. Vậy nên khi một ai đó đi xem tướng mệnh, hễ nghe thầy tướng số phán bản thân có mệnh hung, khắc chồng hoặc vợ thì y rằng hãi như gặp hổ dữ vậy, tinh thần điên đảo hoảng loạn, tạo thành một áp lực cực kỳ lớn. Thậm chí có những vợ chồng hoặc cha con cho rằng đối phương là người khắc mệnh với mình mà dẫn đến oán hận, thậm chí cốt nhục phân chia…

Nghĩa gốc của mệnh “khắc chồng”

Khắc chồng, khắc vợ, khắc cha, khắc con này là một hiện tượng phối hợp mệnh lý trong bát tự mà suy luận ra, là mối quan hệ bắt nguồn từ số mệnh và hành vận của bản thân chứ không phải do sự tác động bên ngoài nào ức chế. Không phải là người đó bẩm sinh đã có công năng hay năng lực thần bí nào đó để khắc chế đối phương.

Trong bát tự của người vợ, nếu như thấy Phu tinh (sao đại biểu cho chồng) rơi vào trạng thái ‘tử tuyệt’ thì có thể từ trong bát tự suy luận ra chồng của người này tương lai sẽ không thọ (yểu chiết). Sau khi người này kết hôn, một khi ứng nghiệm kiểu chồng không thọ này, bên ngoài nhiều người không hiểu bát tự, chỉ là nhìn thấy hiện tượng kết cục như thế liền nói người này khắc chồng, cho rằng họ có một loại sát khí, có thể khắc chết chồng, khiến cho mọi người đều sợ hãi mà tránh xa. Kỳ thực đây chỉ là sự ngẫu nhiên phối hợp bố cục mệnh số của họ mà định ra như vậy. Chứ không phải mệnh số của họ khắc chồng. Ở đây có thể nói nguyên nhân căn bản chính là do bản thân mệnh số của người chồng có số chết yểu.

Tương tự như vậy, nếu như trong mệnh lý của người cha nhìn thấy tử tinh (sao đại biểu cho con cái) bị phá hoại thì có thể suy luận sự suy vong của con chứ không phải mệnh số của người này khắc con. Cũng như trong mệnh của con nhìn thấy sự tử vong của cha thì có thể suy ra cha của người này sẽ sớm tận số chứ không phải người này có mệnh khắc cha. Trong mệnh của chồng nhìn thấy thê tinh tổn hoại thì có thể suy ra người vợ sớm phải tang thương chứ không phải người chồng mệnh hung mà khắc vợ.

Người xưa thường dựa vào Can Chi để suy đoán vận mệnh của một người. Trên thực tế, vợ chồng xung khắc hay không, không phải do vợ hoặc chồng của mình gây nên, mà do bản mệnh của chính người đó đã được an bài sẵn như vậy, không thể thay đổi. (Ảnh: Wikipedia)
Người xưa thường dựa vào Can Chi để suy đoán vận mệnh của một người. Trên thực tế, vợ chồng xung khắc hay không, không phải do vợ hoặc chồng của mình gây nên, mà do bản mệnh của chính người đó đã được an bài sẵn như vậy, không thể thay đổi. (Ảnh: Wikipedia)

Vậy xuất hiện loại phối hợp nào trong bát tự nữ nhân sẽ dẫn tới cái mà người ta thường cho rằng là số khắc chồng?

Trong mệnh số người ra đưa ra rất nhiều loại hiện tượng, ở đây chỉ liệt kê ra mấy loại, trong đó có một loại là “Thân vượng, Quan vi, Vô tài giả, tất khi phu”.

Vì bát tự lấy Can của ngày sinh đại biểu cho bản thân, Quan tinh đại biểu cho chồng. Thân vượng là chỉ trong bát tự với ngũ hành Can ngày tương đồng chiếm đa số. Ví như Can ngày sinh bản thân là Canh Kim, trong 7 tự còn lại thì có tới 5 tự là Kim, vả lại chiếm vị trí quan trọng của Nguyệt trụ địa chi và Nhật trụ địa chi, đây xác định là Thân Vượng. Quan Vi là chỉ sao đại diện cho chồng (Quan tinh hỏa) chỉ có thể có 2 khỏa, 5 kim so với 2 khỏa chính là Quan Vi rồi. Lúc này bát tự đã phân phối xong rồi, Tài tinh đã không còn vị trí nữa, chính là vô tài. Vì Tài tinh có thể sinh Quan tinh, không có Tài tinh đồng nghĩa với Quan tinh vi nhược, tiểu số (chồng) sẽ không có được sự giúp đỡ nào.

Vậy là ở đây bát tự biểu thị ra ý tứ chính là: Đời này bạn là “mặt trời lớn”, thật nể phục, là bậc cao quý, quyền nói, quyền quyết định chiếm 7, 8 phần trở lên, chồng mình chỉ còn lại khoảng 2 phần không gian, vậy nên việc gì cũng do bạn quyết định, bạn làm chủ. Đồng nghĩa với việc trong gia đình, kinh tế, tài vật, lợi ích… đều phải dựa vào bạn làm chủ. Vì chồng bạn chỉ có 2 phần cống hiến, vậy là người ngoài nhìn thấy cho rằng bạn ức hiếp chồng mình. Kỳ thực đây chính là số mệnh của bạn tạo thành như vậy, từ sự phối hợp bát tự có thể nhìn thấy, đây là việc không có cách nào thay đổi.

Một ví dụ nữa: “Can ngày cường, Quan nhược, vô tài, nhi thương thực trọng gia, tất khắc chồng”. Phần trước Can ngày cường, Quan nhược, vô tài tương đồng với phần trên nên không phân tích nữa. Giờ thêm thương thực trọng.

Thương thực là chỉ sao thương Quan tinh và Thực thần tinh, mà thương Quan tinh là chuyên khắc chế Quan Tinh (chồng), cộng thêm tình trạng vợ quản nghiêm ngặt như nói ở trên, cộng với việc có sao thương hại Quan tinh (chồng), Quan tinh sẽ không còn chỗ nào để tránh, nên bị người ngoài cho rằng đó là mệnh khắc chồng. Tình trạng này là nguồn gốc cái mà nhân gian gọi là “Mệnh Ngạch sẽ khắc chồng”.

Mệnh Ngạch cũng là chỉ mệnh nặng, trong đó có một ý tứ là có một phương chiếm đa số trong ngũ hành đại biểu bản thân, đó tất nhiên là phương Quan tinh đại biểu cho chồng chỉ chiếm số ít, nguyên nhân bởi tổng cộng có 8 tự, không phải mình nhiều thì là đối phương. Số nhiều trấn áp số ít, nếu như là Vô Tài tinh, biểu hiện ra, nhẹ thì là ức hiếp chồng, nặng thì chính là khắc chồng. Đây là việc đã định sẵn ngay từ khi sinh ra chứ không phải do chịu lực tác động bên ngoài.

Tuy nhiên không phải cứ Can ngày cường vượng (Mệnh Ngạch) thì có hiện tượng khắc chồng này, Can ngày yếu, nếu phối hợp không tốt cũng sẽ có hiện tượng khắc chồng, nguyên nhân có một số trong mệnh thư lấy Dụng Thần làm phu. ví như Quan Sát quá vượng mà thân suy, lấy Ấn làm Dụng Thần, tức là lấy Ấn làm phu. Nếu như một người mà một trong bát tự Quan vượng, Ấn nhẹ, thân suy, ắt sẽ khắc chồng, nguyên nhân bởi Ấn nhẹ là chỉ Phu tinh nhẹ uy lực yếu, không có gì, bị người ngoài nhìn nhận là khắc chế.

Đoạn trên phần lớn đề cập đến mệnh lý. Nhưng đó chủ yếu là giải thích trong bát tự của một người, có thể nhìn thấy sao phu của một người là tử tuyệt hoặc tổn hại, hoặc bất lực, trong tương lai xuất hiện, bị dân gian gọi là khắc chồng hay ức hiếp chồng, kỳ thực đó là vận mệnh của chính người chồng như vậy chứ không phải vì họ mệnh hung mà khắc chồng.

‘Tử bất hiếu’ (Con không có hiếu)

Vậy vì sao sinh ra mệnh Phu tinh thương tuyệt hoặc Tử tinh phá hoại? Đây chính là vấn đề liên quan đến nhân quả đời trước, luật trời lấy nhân quả làm gốc, vạn sự trên đời không gì là ngẫu nhiên cả.

Lấy một ví dụ về bất hiếu tử, nguyên nhân là vì người cha trong đời trước đã làm một việc xấu với một người nào đó, người bị tổn hại đó chuyển sinh đầu thai làm con trong kiếp này để đòi lại cái nợ do người cha đã gây ra trong đời trước. Nói cách khác thì người con bất hiếu kiếp này chính là ‘chủ nợ’ của người cha trong kiếp trước, nói như vậy cho dễ lý giải vấn đề nhân quả.

Làm sao để cải biến mệnh khắc chồng, khắc vợ, khắc cha, khắc con?

Trong sách mệnh số cũng có dạy người ta một số phương pháp thay đổi. Trước tiên cần nhận biết tất cả về cát hung, họa phúc đều do vận mệnh tự mình gây nên chứ không phải do người khác khắc mình, hoặc mình khắc chế người khác. Sau đó tu tâm dưỡng tính, chú ý thói quen, hành vi của mình, gieo thiện duyên, hành thiện sự, gây phúc điền, không nên oán trời, trách người.

Trong sách mệnh số cũng có dạy người ta một số phương pháp thay đổi. Đó chính là tu chính Pháp. Năng trồng thiện duyên, năng gieo thiện quả, đến khi thiện duyên đủ lớn mới mong có ngày nhận ra chính Đạo mà về. (Ảnh một người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp)
Trong sách mệnh số cũng có dạy người ta một số phương pháp thay đổi. Đó chính là tu chính Pháp. Năng trồng thiện duyên, năng gieo thiện quả, đến khi thiện duyên đủ lớn mới mong có ngày nhận ra chính Đạo mà về. (Ảnh một người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp)

Cũng có người mượn lực bát tự hợp hôn hoặc tìm phong thuỷ tránh hung tìm cát, cũng có người đến chùa cầu Thần khấn Phật tiêu tai trừ nạn. Tuy nhiên những điều này chỉ là phương thức trên bề mặt, không thể tiêu trừ tận gốc nợ nghiệp do mình gây ra, bởi đó là nghiệp lực của con người đời đời kiếp kiếp tích tụ do làm việc không tốt mà tạo thành.

Đối với con người thế nhân mà nói, chỉ có duy nhất một biện pháp đó là cầu chính Đạo, tu chính Pháp. Tuy nhiên có câu: “Nhân thân nan đắc, chính Đạo khó tìm”, người có thể thực sự tìm được chính Đạo lại cần phải có căn duyên. Năng làm việc phúc, giúp người cũng là giúp mình, chỉ có ai năng trồng thiện duyên, gieo thiện quả, đến khi thiện duyên đủ lớn mới mong có ngày nhận ra chính Đạo mà về.

Tác giả: Phóng viên của The Epoch Times

Biên dịch: Khải Chính