George Washington từng phát biểu một điều mà nhiều người Mỹ hiện đại sẽ thấy vô lý. Lời nói này không nằm trong tài liệu mật, mà nằm trong tuyên bố công khai nhất trong sự nghiệp của ông – bài diễn văn chia tay ngay trước khi ông kết thúc nhiệm kỳ tổng thống.

Ông nói như sau:

Trong tất cả những khuynh hướng và lề lối dẫn đến sự thịnh vượng về chính trị, thì tín ngưỡng và đạo đức là những trụ cột không thể thiếu. Sẽ là vô nghĩa khi một người tuyên bố tôn vinh lòng yêu nước nhưng lại lật đổ những trụ cột của hạnh phúc này, vốn là sự công nhận rõ ràng nhất về bổn phận của con người và công dân. … Một bài diễn văn không thể đề cập được hết tất cả mối liên hệ của những trụ cột đó với hạnh phúc của cá nhân và cộng đồng.”

Theo ngài Washington, một người Mỹ không thể khẳng định mình yêu nước nếu họ “lật đổ những trụ cột của hạnh phúc nhân loại”, đó là tín ngưỡng và đạo đức.

Tín ngưỡng và đạo đức
Nhiều nhà sử học và chính khách cho rằng sự sụp đổ của Cộng hòa La Mã là do sự suy tàn niềm tin tôn giáo và đi kèm với đó là tình trạng đạo đức xuống dốc không thể cứu vãn. Tranh “Rome: Tàn tích của Đế chế, Hướng về Điện Capitol” của Canaletto, 1742. (Ảnh: Miền công cộng)

Ông đưa ra hai lý do cho quan điểm của mình. Thứ nhất: “Tiền tài, danh vọng, sự sống liệu có được bảo toàn, nếu trách nhiệm tín ngưỡng không xem trọng những lời thề vốn là công cụ phân xử tại các tòa án công lý?”

Ngài Washington đang đề cập đến những lời tuyên thệ của công dân trước tòa án pháp luật, hoặc khi họ đảm nhận chức vụ tại các cơ quan công quyền khác nhau. Những lời tuyên thệ trước Đức Chúa Trời như một minh chứng cho tính trung thực của họ, cho dù là trước bằng chứng và lời khai của mình, hay đang thể hiện tâm ý khi sắp đảm nhận chức vụ nhà nước. Lời khai không thể được chấp nhận trước tòa nếu không có lời thề, vì nếu nhân chứng hoặc chuyên gia nói dối, họ cũng đang báng bổ Chúa là nói dối. Do đó, lời thề nhằm chắc chắn rằng họ sẽ bị trừng phạt ở thế giới bên kia nếu họ làm như vậy – một điều khủng khiếp đối với những người thực sự có đức tin.

Tín ngưỡng và đạo đức
Một bức chân dung của ngài George Washington do Gilbert Stuart vẽ, năm 1795. (Ảnh: Miền công cộng)

Một giai thoại trong cuốn sách “Nền dân trị Hoa Kỳ” (Democracy in America) của Alexis de Tocqueville – một người Pháp đã đến thăm Hoa Kỳ vào những năm 1830 – đã làm sáng tỏ điều ấy:

“Khi tôi ở Mỹ, một nhân chứng tham dự một phiên tòa ở quận Chester (tiểu bang New York) tuyên bố không tin vào sự tồn tại của Chúa và sự bất tử của linh hồn. Thẩm phán từ chối chấp nhận lời tuyên thệ của anh ta vì cho rằng nhân chứng đã tự phủ nhận độ tin cậy trong lời khai của mình. Báo chí đã đưa tin sự việc mà không bình luận gì thêm.”

Tại sao một thẩm phán Mỹ lại coi niềm tin vào Chúa là điều thiết yếu cho một lời tuyên thệ? Luật gia người Anh William Blackstone đưa ra những lý do tương tự, thường được các Tổ phụ lập quốc trích dẫn:

“Niềm tin về một trạng thái thưởng phạt trong tương lai – lý tưởng công bằng trong các phẩm chất đạo đức của Đấng Tối Cao – và sự thuyết phục chắc chắn rằng Ngài coi sóc tất cả nhân loại và cuối cùng sẽ đưa ra phán xét thưởng phạt cho mọi hành động trong cuộc sống của con người (tất cả đều được đề cập rõ ​​ràng trong các giáo lý, và được khắc sâu trong các giới luật, của Đấng cứu thế Christ), đây là nền tảng to lớn và vững chắc của tất cả các lời thề tư pháp; Chúa chứng kiến chân tướng của những sự kiện đó – điều mà có lẽ chỉ có Ngài và bên chứng thực mới biết: do đó, tất cả bằng chứng đạo đức, tất cả sự tin tưởng vào tính thành thật của con người, sẽ bị giảm giá trị nếu thiếu tín ngưỡng và hoàn toàn không có giá trị nếu người đó phản bội đức tin.”

Điều này liên quan chặt chẽ đến lý do thứ hai mà ngài Washington đưa ra trong diễn văn chia tay để ủng hộ lập trường của ông: “Chúng ta hãy thận trọng với những suy nghĩ cho rằng đạo đức có thể được duy trì mà không cần tín ngưỡng. Cho dù nền giáo dục tinh hoa có khiến những bộ óc khác biệt thừa nhận điều gì, thì cả lý trí và kinh nghiệm đều không cho phép chúng ta kỳ vọng rằng đạo đức quốc gia có thể tồn tại mà không tuân theo các nguyên tắc tín ngưỡng.”

Tôi đã thường xuyên quan sát, những Tổ phụ lập quốc là một trong những thế hệ đọc sách giỏi nhất trong lịch sử. Trong hàng loạt chủ đề, họ quen thuộc nhất là lịch sử, đặc biệt là lịch sử Hy Lạp và La Mã.

Các nhà sử học Hy Lạp như Polybius cho rằng sự thịnh vượng của nhà nước La Mã một phần là nhờ nghiêm túc nhìn nhận các lời thề (tư pháp và các nghĩa vụ khác) như một nghĩa vụ thiêng liêng. Các chính khách La Mã như Cicero cũng quan sát thấy điều tương tự nhiều thế kỷ sau đó. Những niềm tin đó đã gìn giữ, bảo vệ đế chế La Mã, và củng cố lòng tin của người La Mã đối với nhau.

Tương tự như vậy, các nhà sử học và chính khách cổ đại cho rằng sự sụp đổ của Cộng hòa La Mã là do suy giảm niềm tin tôn giáo, đi kèm với đạo đức ngày càng tụt dốc. Ngay cả trước khi có Cơ Đốc Giáo, họ vẫn coi tín ngưỡng và đạo đức là mối liên hệ không thể tách rời bởi vì thế giới bên kia thực sự là phần thưởng hay hình phạt cho những hành động trong cuộc sống này. Quý vị có thể trốn được công lý của con người, nhưng quý vị không bao giờ có thể trốn được công lý của Đức Chúa Trời, và điều này đóng vai trò như một chiếc dây cương mạnh mẽ đối với những dục vọng suy đồi nhất của nhân loại.

Niềm tin vào Chúa, và điều mà các Nhà sáng lập thường gọi là “trạng thái tương lai” – trong đó việc Ngài sẽ phán xử “phần thưởng và hình phạt” cho hành vi của một người trong cuộc sống là cơ sở cho niềm tin về sự cần thiết của tín ngưỡng trong một xã hội tự do. Cho dù là người rất có đức tin (như Benjamin Rush) hoặc ít tín ngưỡng hơn (như Thomas Jefferson); tất cả họ đều đồng ý về điểm này.

Tất cả họ đều sẽ nói với John Adams như sau:

“Tôi coi tín ngưỡng là điều cốt yếu đối với đạo đức. Tôi chưa bao giờ đọc về một nhân vật trong lịch sử Hy Lạp, La Mã, hay bất kỳ lịch sử quốc gia nào khác mà họ không có đức tin, và tôi cũng chưa từng biết một người nào phi tín ngưỡng mà không phải là một kẻ vô lại. Hãy kể tên một người như thế, dù còn sống hay đã khuất, nếu quý vị có thể.”

Do đó, như ngài Washington đã thẳng thắn khẳng định, hành động hủy hoại những chân lý vĩ đại về tín ngưỡng và đạo đức sẽ không bao giờ song hành với lòng yêu nước.

Joshua Charles là cựu thành viên viết bài phát biểu tại Tòa Bạch Ốc cho cựu Phó Tổng thống Mike Pence, ông là nhà sử học, diễn giả và là tác giả của một số cuốn sách bán chạy số 1 trên Thời báo New York Times. Ông cũng là cố vấn lịch sử cho một số bộ phim tài liệu và xuất bản sách về các chủ đề khác nhau, từ Tổ phụ lập quốc, Israel, đến tác động của Kinh Thánh đối với nền văn minh nhân loại. Ông là biên tập viên cao cấp, nhà phát triển khái niệm của “Kinh Thánh tác động toàn cầu”, được xuất bản bởi Bảo tàng Kinh Thánh có trụ sở tại D.C. vào năm 2017, đồng thời cũng là học giả thành viên của Trung tâm Khám phá Đức tin và Tự do ở Philadelphia. Ông là một thành viên của Tikvah và Philos, đã diễn thuyết khắp đất nước về các chủ đề như lịch sử, chính trị, đức tin và thế giới quan. Ông cũng là một nghệ sĩ dương cầm có bằng thạc sĩ chính phủ và luật. Quý vị có thể theo dõi ông trên Twitter @JoshuaTCharles hoặc xem JoshuaTCharles.com.

Joshua Charles
Ngân Hà biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Xem thêm:

Với 22 ngôn ngữ, Epoch Times là một kênh truyền thông Mỹ độc lập theo nguyên tắc Sự Thật và Truyền Thống. Thông qua những bài báo trung thực, cung cấp sự thật và làm sáng tỏ những vấn đề xã hội quan trọng, Epoch Times mong muốn gửi đến Quý độc giả những giá trị nhân văn của sự chính trực, lương thiện, lòng trắc ẩn, hay những bài học quý giá từ lịch sử, đồng thời tôn vinh các giá trị phổ quát của nhân loại.

Rất mong nhận được sự ủng hộ và đồng hành của Quý độc giả thông qua việc chia sẻ, lan tỏa các bài viết đến với cộng đồng. Epoch Times tin rằng đây là cách để chúng ta cùng kiến tạo tương lai, đi tới một đại kỷ nguyên mới huy hoàng và đẹp đẽ hơn.


Mọi ý kiến và đóng góp bài vở, xin vui lòng gửi về: [email protected]