Trước đây, tôi đã giải thích chính sách mua và bán chứng khoán của Fed tác động như thế nào đến lãi suất và giá cổ phiếu (Phần 1). Sự thay đổi lớn nhất trong việc mua (hoặc bán) chứng khoán xảy ra từ giữa năm 2007 đến giữa năm 2008. Sau đó, Fed đã bán 40% số chứng khoán nắm giữ. Hành động này đã làm giảm lượng cung tiền [ra thị trường do thu lại từ bán cổ phiếu]  này  xuống mức năm 1999. Việc thiếu cung tiền này tạo ra sự thiếu hụt thanh khoản, giá cổ phiếu sụt giảm và nền kinh tế sụp đổ

Vào tháng 02/2009, Fed bắt đầu mua lại chứng khoán để khôi phục lại cung tiền. Thị trường chứng khoán bắt đầu hồi phục vào tháng 03/2009. Đến tháng 04/2009, Fed không chỉ thay thế hoàn toàn tất cả các chứng khoán mà họ đã bán mà còn tăng thêm 200 tỷ USD. Đến tháng 07/2009, nền kinh tế bắt đầu phục hồi.

Trong 4 năm tiếp theo Fed đã mua một lượng chứng khoán trị giá 3 ngàn tỷ USD chưa từng có. Điều này đã nâng tổng số tài sản nắm giữ của Fed lên chỉ hơn 4 ngàn tỷ USD, mức tăng dự trữ ngân hàng lớn nhất trong lịch sử, vượt quá sự gia tăng ồ ạt của các giao dịch mua chứng khoán được sử dụng để tài trợ cho Đệ nhị Thế chiến.

Vào cuối năm 2014, Fed đã ngừng mua chứng khoán. Từ năm 2018 đến cuối năm 2019, Fed đã bán 500 tỷ USD chứng khoán. Những thay đổi đáng kể như vậy trong việc nắm giữ chứng khoán của Fed thường sẽ có tác động rất lớn đến giá cổ phiếu và mức [tổng] chi tiêu (GDP theo USD hiện tại). Thay vào đó, từ năm 2009 đến năm 2019, chi tiêu hàng năm rất ổn định, với chi tiêu (GDP) tăng trong phạm vi hẹp 3-5 %.

Tại sao các khoản mua chứng khoán lớn của Fed không có tác động lớn đến chi tiêu? Làm thế nào mà việc tạm dừng và sau đó bán chứng khoán lại không gây áp lực giảm giá chứng khoán và chi tiêu?

Câu trả lời: Hầu hết số tiền mà Fed tạo ra đã không bao giờ được đưa vào nền kinh tế. Như thường lệ, việc Fed mua chứng khoán đã tạo ra nguồn dự trữ ngân hàng mới, bổ sung vào các thành phần thô của cung tiền, còn được gọi là tiền mạnh. Tuy nhiên, để các khoản tiền này đi vào nền kinh tế, các ngân hàng cần phải cho vay hoặc đầu tư các khoản dự trữ ngân hàng mới của họ. Nếu các ngân hàng giữ nguyên lượng tiền dự trữ mới của họ khi ký gửi với Fed, thì lượng tiền dự trữ mới không làm tăng lượng cung tiền trong nền kinh tế.

Hóa ra các khoản mua chứng khoán của Fed trong giai đoạn đầu của quá trình phục hồi quá lớn, các ngân hàng không thể tìm thấy đủ mục đích sử dụng sinh lời cho các khoản dự trữ mới. Do đó, các ngân hàng đã để lại hầu hết dự trữ mới để gửi vào Fed. Đến năm 2014, các ngân hàng đã có 2.7 nghìn tỷ USD tiền gửi với Fed. Các khoản tiền gửi này đại diện cho cung tiền tiềm năng. Chúng là nguồn tiền tiềm năng, bởi vì một khi các ngân hàng xác định các điều kiện là có lãi, họ sẽ cho vay hoặc đầu tư các khoản tiền này vào nền kinh tế.

 Fed/cung tiền/giá cổ phiếu
Đường màu xanh lục có nhãn ‘Tính thanh khoản’, cho biết lượng tiền có sẵn cho nền kinh tế do Fed mua và bán chứng khoán. Tính thanh khoản được tính từ các khoản mua chứng khoán của Fed (có xu hướng làm tăng số lượng tiền) và trừ đi số tiền mà các ngân hàng để lại khi ký gửi với Fed (vì những khoản tiền này vẫn chưa có sẵn để sử dụng trong nền kinh tế). (Ảnh: Robert Genetski)

Biểu đồ trên cho thấy cả tổng số chứng khoán mà Fed nắm giữ và dự trữ của ngân hàng (số dư ngân hàng trên khoản tiền gửi với Cục Dự trữ Liên bang). Lưu ý rằng các ngân hàng thường tăng hoặc giảm tiền gửi của họ với Fed như thế nào. Khi làm như vậy, các ngân hàng đã bù đắp thành công những thay đổi đáng kể của Fed trong việc nắm giữ chứng khoán. Lực tạo sự ổn định này là lý do tại sao [mức tổng] chi tiêu ổn định hơn nhiều so với chính sách của Fed.

Để xác định mức tăng cung tiền vào nền kinh tế, cần phải tính đến việc Fed mua chứng khoán ([tạo ra] tiền mới trong các ngân hàng) và trừ đi số tiền mà các ngân hàng để lại khi ký gửi với Fed (thực tiễn này ngăn cản việc giải phóng các khoản tiền đó vào nền kinh tế).

Biểu đồ tiếp theo cho thấy tác động ròng của hai yếu tố này, mà tôi đã chọn gắn nhãn “Tính thanh khoản”. Bất chấp việc các ngân hàng để lại nhiều tiền mới tại Fed, Thanh khoản vẫn tăng mạnh trong nửa đầu năm 2020. Sau đó, tính thanh khoản chững lại, trước khi tăng mạnh vào năm 2021.

Fed/cung tiền/giá cổ phiếu
Đường màu xanh lục có nhãn ‘Tính thanh khoản’, cho biết lượng tiền có sẵn cho nền kinh tế do Fed mua và bán chứng khoán. Tính thanh khoản được tính từ các khoản mua chứng khoán của Fed (có xu hướng làm tăng số lượng tiền) và trừ đi số tiền mà các ngân hàng để lại khi ký gửi với Fed (vì những khoản tiền này vẫn chưa có sẵn để sử dụng trong nền kinh tế). (Ảnh: Robert Genetski)

Với COVID-19 và biện pháp phong tỏa của chính phủ, Fed tiếp tục một xu hướng mua khác. Như trong cơn bùng nổ trước đó, các ngân hàng để lại phần lớn dự trữ mới của họ để gửi vào Fed. Kể từ mùa xuân năm 2020, Fed đã tiếp tục mua chứng khoán với tốc độ ổn định 10% một năm. Việc tăng tiền gửi ngân hàng với Fed một lần nữa điều chỉnh tăng trưởng thanh khoản vào cuối năm 2020 và đầu năm 2021. Tuy nhiên, trong năm qua, thanh khoản đã tăng vọt trở lại, tăng ở mức hai con số.

Các đợt tăng mua chứng khoán của Fed trong lịch sử có thể là một động lực mạnh mẽ khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn. Sự gia tăng đáng kể của tiền vào nền kinh tế tiếp tục vào đầu năm nay. Sự gia tăng thanh khoản này sẽ tạo áp lực tăng đáng kể lên giá cổ phiếu cũng như chi tiêu mạnh trong nửa cuối năm nay.

Trong khi chính sách tiền tệ tiếp tục đẩy giá cổ phiếu lên cao hơn, các yếu tố khác đang kéo giá cổ phiếu xuống thấp hơn. Như đã lưu ý trước đây, các nhà đầu tư cổ phiếu luôn nên xem xét giá trị cơ bản của cổ phiếu. Phân tích cơ bản của tôi về cổ phiếu sử dụng xu hướng thu nhập dài hạn cho chỉ số S & P500 và lãi suất trên trái phiếu chất lượng cao, tạo ra ước tính về giá trị cơ bản.

Trong quý 4 năm 2021, với S & P500 ở mức 4,600, phân tích của tôi ước tính giá trị của S & P500 vào khoảng 4,160. Do đó, các cổ phiếu S & P500 chỉ bán được hơn  cao hơn 10% giá trị của chúng. Điều kiện đã thay đổi kể từ đó. Trong quý 4, lãi suất trái phiếu chất lượng cao là 2.6%. Hiện tại, lãi suất là 3.3%. Lãi suất cao hơn làm giảm giá trị của cổ phiếu. Với lãi suất hiện tại, giá trị của S & P500 ở mức dưới 4,000 một chút. Cả giá cổ phiếu và giá trị của chúng đều giảm, khiến giá cổ phiếu cao hơn giá trị [của chúng] khoảng 10%.

Một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến giá trị tương lai của cổ phiếu là lãi suất tăng bao nhiêu trong năm tới. Ví dụ: nếu lãi suất trái phiếu tăng hoàn toàn theo điểm phần trăm, giá trị cơ bản của S & P500 sẽ giảm xuống còn 3,800 trong quý 4 năm nay.

Các lực lượng kinh tế hiện tại đang kéo cổ phiếu theo các hướng khác nhau. Trong khi dòng tiền tràn vào nền kinh tế đang đẩy giá cổ phiếu lên cao hơn, thì sự gia tăng lãi suất được dự đoán rộng rãi đang kéo giá cổ phiếu xuống.

Vào đầu năm nay, lực kéo cổ phiếu xuống thấp hơn đã chiến thắng cuộc giằng co này. Nếu chính sách tiền tệ chuyển từ mở rộng sang thu hẹp như đã từng thực hiện trong năm 2008, thì sẽ dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng cho cả thị trường chứng khoán và nền kinh tế.

Quan điểm trong bài viết này là ​​của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.

Tiến sĩ Robert J. Genetski là một nhà kinh tế học, nhà tư vấn, giáo viên, tác giả và diễn giả. Trong 25 năm qua, với tư cách là người đứng đầu công ty tư vấn của riêng mình, ông đã cung cấp cho khách hàng những hiểu biết sâu sắc về tác động tài chính của các phát triển chính sách. Là người ủng hộ hàng đầu cho các nguyên tắc cổ điển của thị trường tự do, ông đã viết năm cuốn sách về chủ đề “Giành chiến thắng bằng tiền” (với Beryl W. Sprinkel), “Các nguyên tắc kinh tế cổ điển & sự giàu có của các quốc gia”, “Lấy kinh tế từ thiện,” “ Quốc gia triệu phú” và “Quốc gia giàu có, Quốc gia nghèo.”

Nhật Thăng biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Xem thêm: