Nơi đâu có tiếng dương cầm vang vọng, nơi đó có hy vọng. Nơi có một chiếc dương cầm, có ai đó biết cách chơi đàn là đã có thể dạy những người khác chơi đàn. Và chính hoạt động này – dạy dương cầm và học dương cầm – sẽ làm thế giới trở nên tốt đẹp hơn.

Học dương cầm là học cách phối hợp các giác quan như xúc giác, thị giác và thính giác; cách phân biệt những cung bậc chưa đúng và điều chỉnh nó; cách rèn luyện cảm quan về cái đẹp; và tất cả những điều này trong khi khám phá khả năng sáng tạo tiềm ẩn của chính bản thân.

Học viên piano vừa nâng niu lịch sử âm nhạc vừa nắm giữ tương lai của nhạc cụ này. Những tác phẩm âm nhạc trong hàng thế kỷ có thể được tái hiện lại qua 88 phím của loại nhạc cụ mà nghệ nhân Bartolomeo Cristofori phát minh vào đầu thế kỷ 18. Phát minh của ngài Cristofori được đặt tên “âm vang nhẹ nhàng” (“pianoforte,”sau rút gọn thành piano) bởi khả năng chơi được các mức âm lượng khác nhau, trái ngược hẳn với chiếc đàn harpsichord tiền thân.

tiếng dương cầm vang vọng
Chiếc đàn dương cầm do nghệ nhân Bartolomeo Cristofori chế tạo năm 1726 được trưng bày tại Bảo tàng Nhạc cụ ở Leipzig, Đức. (Ảnh: Opus33/CC BY-SA-4.0)

Một cách thức biểu đạt mới mẻ

Hệ thống dây đàn, búa gõ và bàn đạp giảm âm cho phép người chơi thể hiện nhiều hơn so với các loại nhạc cụ bằng phím trước đó, và từ đây những kiệt tác bất hủ của những nhà soạn nhạc danh tiếng như: Mozart, Beethoven, Chopin, Schumann, Brahms, và hàng loạt những tác phẩm đã được khai sinh. Những tác phẩm này có lẽ không thể trọn vẹn nếu không nhờ phát minh này của Cristofori. 

Học sinh ngày nay có thể chơi những bản nhạc tự soạn hoặc những tác phẩm của những nhà soạn nhạc thời kỳ tiền piano (pre-piano) như J.S.Bach, nhưng âm vực của piano (nốt thấp nhất và cao nhất vượt quá phạm vi của nhạc giao hưởng) và độ phức tạp của nó có thể được 10 ngón tay điêu luyện chinh phục, đồng nghĩa với việc nghệ sĩ có thể chơi các bản phối giao hưởng và opera, hoặc những tác phẩm mang tính đại chúng hơn như nhạc phim và nhạc pop.

Tôi đã dạy piano cho hơn 20 người trong số ước tính 5 triệu người học piano ở Hoa Kỳ. Con số thứ hai này bao gồm cả người trẻ tuổi và người lớn mới bắt đầu, học sinh trung cấp và cao cấp, và cả một số nghệ sĩ dương cầm có triển vọng. Phần trăm trong số 5 triệu người này theo đuổi sự nghiệp trình diễn piano trong các buổi hòa nhạc, nhà hát và phòng chờ là rất nhỏ, dù vẫn có nhiều người tiếp tục đồng hành cùng các dàn hợp xướng nhà thờ hoặc  dạy đàn piano.

tiếng dương cầm vang vọng
Chân dung Bartolomeo Cristofori, người phát minh ra đàn piano, vào khoảng năm 1726. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

 

Những bản độc tấu dương cầm 

Như vậy, việc học piano có điểm gì khác biệt so với các nhạc cụ khác hay thậm chí là các môn thể chất khác như võ thuật hay các môn thể thao đồng đội?

Trong tất cả các nhạc cụ phương Tây, piano là nhạc cụ có khả năng tự sáng tạo [cách biểu đạt tác phẩm] tốt nhất. Các loại nhạc cụ dây cung nổi tiếng với những bản nhạc độc tấu, phần nhiều là những kiệt tác bất hủ (ví dụ như tuyển tập cho đàn cello của Bach), nhưng phần lớn chúng chỉ dành cho biểu diễn hòa tấu. Một nghệ sĩ vĩ cầm có thể dành hàng giờ thuần thục những bản Chaconne của Bach, nhưng cô ấy sẽ phải dành nhiều giờ hơn nữa để trình diễn với những người đệm piano hoặc biểu diễn trong tứ tấu đàn dây (gồm 2 người chơi vĩ cầm, 1 người chơi viola và 1 nghệ sĩ cello.)

Một nghệ sĩ dương cầm thông thường dành nhiều thời gian độc tấu hơn là tham gia vào một tác phẩm hòa tấu. Học cách chơi một bản nhạc piano đồng nghĩa với việc đưa ra những quyết định và chịu trách nhiệm với những quyết định đó. 

“Tốc độ đó có thực sự phù hợp với tinh thần của tác phẩm hay không? Đoạn cao trào của cung điệu nằm ở đâu, và tôi sẽ làm nổi bật nó như thế nào? Liệu tôi có nên lặp lại giọng trung không? Tình yêu của Chopin dành cho opera có tác động tới âm nhạc của ông như thế nào, tôi sẽ truyền tải điều đó ra sao? Tôi nên chơi khúc fugue trong bản Sonata Op.110 của Beethoven như thế nào?”

Học viên piano được dạy kỹ năng suy nghĩ độc lập. Tất nhiên, mối quan hệ thầy trò cũng là một yếu tố quan trọng, bởi giáo viên là một người cố vấn, người đã đi qua những vùng đất rộng lớn của thế giới âm nhạc cổ điển và biết những khó khăn nằm ở đâu. Tuy nhiên, mối quan hệ trung tâm chính là mối quan hệ giữa cá nhân học viên với tác phẩm được nghiền ngẫm và được diễn giải như thế nào. Người đưa ra quyết định cuối về việc sử dụng nhịp lơi (rubato) hay nhịp rung (trill) sẽ chỉ có thể là học viên, và chỉ là cá nhân ấy: đưa ra những quyết định sáng suốt và  chịu trách nhiệm với những quyết định ấy.

Kenneth LaFave là cựu nhà phê bình âm nhạc cho hai tờ báo Arizona Republic và The Kansas City Star. Ông đã nhận bằng tiến sĩ triết học, nghệ thuật và tư duy phản biện từ Trường Cao học Âu Châu. Ông là tác giả của ba cuốn sách, bao gồm “Trải nghiệm âm nhạc điện ảnh” (Experiencing Film Music), (2017, Rowman & Littlefield).

Anh Thư biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Xem thêm:

Với 22 ngôn ngữ, Epoch Times là một kênh truyền thông Mỹ độc lập theo nguyên tắc Sự Thật và Truyền Thống. Thông qua những bài báo trung thực, cung cấp sự thật và làm sáng tỏ những vấn đề xã hội quan trọng, Epoch Times mong muốn gửi đến Quý độc giả những giá trị nhân văn của sự chính trực, lương thiện, lòng trắc ẩn, hay những bài học quý giá từ lịch sử, đồng thời tôn vinh các giá trị phổ quát của nhân loại.

Rất mong nhận được sự ủng hộ và đồng hành của Quý độc giả thông qua việc chia sẻ, lan tỏa các bài viết đến với cộng đồng. Epoch Times tin rằng đây là cách để chúng ta cùng kiến tạo tương lai, đi tới một đại kỷ nguyên mới huy hoàng và đẹp đẽ hơn.


Mọi ý kiến và đóng góp bài vở, xin vui lòng gửi về: [email protected]