Người lạc quan nói nhân sinh là mộng lầu hồng, người bi quan cho rằng nhân sinh là trường hý kịch, lại có người thốt lên rằng: Cuộc sống này có khác chi một tấn trò đời? Hôm nay là “dì ghẻ” tra tấn con gái của người tình, ngày mai là “chồng hờ” đóng đinh lên đầu con riêng của “vợ tạm”, ngày mốt lại là con gái đầu độc đấng sinh thành… 

Liên tiếp những vụ án chấn động xảy ra gần đây khiến chúng ta nhận ra rằng: Nẻo đường trần gian tuy ngựa xe náo nhiệt, nhưng nhân phẩm lại suy vi, đạo đức lại ngày càng sa đọa. Tiếng khóc than các oan hồn chưa siêu sinh cũng làm rung chuyển cả núi non địa ngục.

Kiếp nhân sinh thật là ngắn ngủi, chỉ khi trải qua mưa tuyết thấu xương, mới mong hoa mai hé nở. Chỉ khi đi qua hết những trắng đen của kiếp người, nếm trải mọi chìm nổi lênh đênh, mới nghiệm ra rằng: Lưới Trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt, biết thức tỉnh quay đầu thì mới có con đường…

Cuộc sống này có khác chi một tấn trò đời? Hôm nay là “dì ghẻ” tra tấn con gái của người tình, ngày mai là “chồng hờ” đóng đinh lên đầu con riêng của “vợ tạm”, ngày mốt lại là con gái đầu độc đấng sinh thành… Chao ôi, cái chốn bụi trần này, biết khi nào mới hết những trái ngang?

Tôi đang miên man suy nghĩ thì chợt có hai vị khách từ đâu lướt đến, đứng nghiêm trang trước mặt. Hai vị ấy ăn vận như quan viên thời xưa, một người đầu đội mũ sa thâm, lưng đeo đai tê giác, thân khoác áo bào đen. Vị còn lại chân xỏ đôi giày hoa, mình choàng bào gấm trắng, đầu đội mũ lông tuyết. Cả hai dáng hiên ngang như trái núi, giọng đanh thép như sấm rền, nhìn không rõ mặt, chỉ thấy rằng “mái tóc quanh tai bay lõa xõa, chòm râu bên mép mọc lòa xòa”.

Hắc Bạch Vô Thường

Tôi ngẩn ngơ một lúc rồi lắp bắp hỏi: “Xin hỏi… các ngài là ai?”

Vị mặc áo bào đen nói: “Tôi là Phạm Vô Cứu, còn vị này là Tạ Tất An. Chúng tôi phụng mệnh đến mời tiên sinh xuống điện Sâm La một chuyến”.

Hả? Tôi giật nảy mình. Tạ Tất An và Phạm Vô Cứu chẳng phải là danh xưng của Hắc Bạch Vô Thường – hai sứ giả câu hồn về âm phủ hay sao? Tôi không ốm không đau, không bệnh không tật, không tai không nạn, không phải ở cái tuổi sắp về chầu tiên tổ, hơn nữa cả tháng nay chỉ ở trong nhà tránh Covid thì làm sao có mệnh hệ gì được? Không đúng, không đúng, nhất định là các vị tìm nhầm người rồi!

Tôi chưa kịp mở lời thì Bạch Vô Thường cất tiếng nói: “Tiên sinh đừng sợ. Đêm nay dưới Sâm La có một vụ trọng án cần phải phân xử trước giao thừa. Vì thời giờ gấp gáp mà phòng Thẩm Phán lại thiếu một tay thư lại, vậy nên Diêm Vương điện hạ mới đặc biệt mời tiên sinh đến, trước là thăm thú cảnh âm tào địa phủ, sau là ghi chép lại biên bản xử án. Xong việc nhất định sẽ trả lại hồn phách về dương gian, vậy nên tiên sinh đừng quá lo lắng”.

Tượng của Bạch Vô Thường trong một đền ở Đài Trung, Đài Loan. (Ảnh: Tài sản công)

Thăm âm tào, ngẫm suy Nhân Quả

Tôi không còn cách nào, đành phải đi theo các vị âm sai. Hắc Bạch Vô Thường đưa tôi tiến nhập vào một không gian mờ mờ ảo ảo, mây mù giăng giăng. Chẳng biết mất bao lâu mới thấy một tòa thành, trên cổng thành là hàng chữ lớn: “Quỷ Môn quan, U Minh động phủ”. 

Bước qua cổng Quỷ Môn, nhìn xuống thấy mặt đất tỏa sương khói lờ mờ, nhìn lên thấy đỉnh tháp khắc hình đầu quái thú, còn nhìn thẳng phía trước thì chỉ thấy một con đường hun hút, trải dài đến vô tận gọi là Hoàng Tuyền, hai bên đường là hoa Bỉ Ngạn rực đỏ như lửa. Người đời có câu “Quỷ Môn quan, Quỷ Môn quan, mười người đi, một người về” quả không sai, ở đây chỉ thấy lũ lượt người đi vào mà chẳng thấy có ai trở ra. Bên này thì lố nhố đầu trâu, phía nọ thì loăng quăng mặt ngựa, đám sói lang kéo gông cùm đưa ma tiếp quỷ, bầy hổ báo lê xích sắt, dẫn phách lôi hồn về âm ty.

Các âm hồn bị hai tướng trâu ngựa áp giải lên đài cao. Họ vừa đặt chân lên đỉnh đài liền bị ánh sáng lóa mắt chiếu rọi, trong hào quang hiện ra những tội ác mà họ đã làm lúc sinh thời. Bạch Vô Thường giải thích: “Đây là Đài Gương Soi Ác Nghiệp, đài này do khí thiêng kết tụ mà thành. Người phàm sau khi chết, trước tiên phải đến khai báo ở Giao Bộ Sảnh thuộc Âm Dương Giới. Người làm nhiều việc thiện sẽ tùy theo cơ duyên mà được đầu thai chuyển kiếp. Còn kẻ phạm nhiều tội ác thì bị áp giải lên đài, chiếu cho hiện nguyên hình, biết rõ tội trạng rồi mới giải đến các điện để xét xử và thụ hình. Kẻ phạm lỗi trong bóng tối chỉ có thể lừa người chứ không thể dối trời, hễ đứng trước Gương Soi Ác Nghiệp thì những bí mật sâu kín đều lộ ra hết, không giấu giếm được”.

Hai âm sai dẫn tôi đi thêm một đoạn, thấy trước mặt là tòa núi cao hiểm trở, gai góc um tùm, vách đá cheo leo, gió âm hiu hắt, khí độc bủa giăng. Quả đúng như miêu tả trong một bài thơ:

“Núi không cỏ mọc, 

Đèo không người qua 

Khe không nước chảy, 

Động không mây về 

Vách non đầy quỷ quái, 

Chân núi rặt yêu ma 

Trong động toàn quỷ dại, 

Dưới khe ẩn hồn tà.”

Tôi liền hỏi: “Thưa hai ngài quan sai, đây là đâu?” Bạch Vô Thường nói: “Đây là núi Bối Âm, qua núi này sẽ đến mười tám tầng địa ngục”.

Các tầng địa ngục. (Tranh minh họa: Tài sản công)

Từ lâu tôi đã nghe nhiều lời đồn thổi về địa ngục, vẫn biết đó là nơi kinh hoàng thảm khốc, nhưng khi tận mắt thấy vẫn không khỏi kinh hồn khiếp vía, phách tán hồn bay. Hai vị Hắc Bạch phải cho tôi uống viên đơn “định thần” rồi từ từ giới thiệu về từng ty và ngục chốn âm tào:

Đi qua Thành Thác Oan, thấy toàn là oan hồn chết thảm, oán khí không tiêu, đa phần là những hài nhi hoặc bị bỏ rơi, hoặc bị nạo phá thai không nơi nương tựa. Có hài nhi máu me đầy mình, kêu gào luôn miệng, lại có hài nhi lăn lộn trên sàn trông thật là thê thảm, đáng thương.  

Đi qua các ngục Hàn Băng, ngục Hắc Ám, ngục Đao Sơn… con số ngục lao nhiều không kể xiết, chỉ nghe thấy tiếng khóc thê lương thảm thiết. Ở đây toàn những kẻ tâm địa mờ ám, miệng lang dạ sói, hãm hại người lành, ức hiếp người lương thiện.

Lại xuống đến ngục A Tỳ, ngục Vạc Dầu Sôi, ngục Dao Sắt Dao Đồng, ngục Vô Sinh… chỉ thấy những tội nhân bị gông cùm khóa chặt, thừng chão quấn lằn, chịu đủ mọi nhục hình thống khổ, không bút mực nào tả xiết. Vì những nhục hình như chặt tay chặt chân, moi tim móc mật, lột da tróc thịt v.v. quá ư kinh hoàng khiếp đảm nên xin phép không miêu tả ở đây, kẻo sẽ khiến người nghe ám ảnh suốt đời. Chỉ có thể nói rằng đây là nơi giam giữ những kẻ thập ác bất xá, bị đày đọa muôn đời không giải thoát, trầm luân vạn kiếp chẳng siêu sinh.

Hắc Vô Thường giải thích: “Người đời nói về 18 tầng địa ngục, đó chỉ là ngục A Tỳ mà thôi. Bởi vì ngục A Tỳ có tới 18 tầng thấu tới tận tâm trái đất, nơi đó âm khí dày đặc, trong ngục tối om, bàn tay giơ lên không nhìn thấy ngón. Bị giam ở đây đều là thứ tội ác ngập trời, vĩnh viễn không được đầu thai”.

Tôi liền hỏi: “Nếu họ thực lòng ăn năn, bỏ ác theo thiện thì còn có cơ hội hay không?”

Hắc Vô Thường đáp: “Những tội nhân này khi sống thì cậy thế lộng hành, tự tung tự tác, coi trời bằng vung, không tin nhân quả báo ứng, vì thế mà việc ác nào cũng dám làm. Đến lúc phải chịu thụ hình mới biết ăn năn hối hận thì đâu còn kịp nữa?”

Thấy tôi trầm ngâm than thở, hai vị Hắc Bạch an ủi: “Tiên sinh đừng quá nghĩ ngợi, cổ nhân có câu: ‘Họa phước không cửa, chỉ tại người tự chuốc. Thiện ác trả vay như bóng theo hình’. Giờ tiên sinh thấy họ thống khổ nên thương tâm, nhưng nếu như chứng kiến tội ác của họ năm xưa, có lẽ tiên sinh sẽ không quá mủi lòng đến thế. Mọi hình phạt dưới âm tào đều có nguyên do!”

Mải chuyện trò, tôi không nhận ra mình đã đến trước một dòng sông đỏ ngầu, bắc qua sông là cầu Nại Hà chia thành hai tầng. Tầng bên trên kiên cố chắc chắn, khách qua cầu có tràng phan tiễn đưa. Hỏi ra mới biết họ đều là các bậc trung nghĩa hiền lương, tâm địa thuần phác, suốt đời làm việc thiện. Còn tầng phía dưới chòng chành lắc lư, chiều dài vạn dặm mà rộng chỉ ba gang, sơ sẩy một chút là rơi xuống. Khách đi trên đó đều là các tội nhân mình đầy ác nghiệp, đến giữa cầu liền ngã xuống. Dòng sông bên dưới nước chảy băng băng, sóng dâng cuồn cuộn, nào rắn độc, nào mãng xà thi nhau há miệng, tranh nhau cắn xé những tội hồn.

Chứng kiến cảnh tượng đau lòng này, trong tâm tôi trĩu nặng nghĩ suy. Các vị âm sai hiểu ý, liền cất tiếng.

Hắc Vô Thường nói: “Phàm là những kẻ tâm địa xấu xa, lòng lang dạ sói thì sau khi chết lòng dạ của họ sẽ hóa thành rắn độc. Tội hồn thấy tâm địa mình đều là rắn rết nên chân tay bủn rủn mà tự ngã xuống, hoặc nếu không ngã thì cũng bị quỷ trâu ngựa đẩy xuống cầu. Đó đều là tâm địa của họ đang nuốt chửng họ mà thôi”.

Bạch Vô Thường tiếp lời: “​​Tiên sinh hãy nhìn đám u hồn trên cầu Nại Hà kia, chẳng phải là: Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà chẳng lọt, lưới đất dày đặc, thoát mà chẳng được lâu? Người trên dương thế cứ nghĩ: Sống là phải tận hưởng, kẻo chết là hết. Nhưng sinh chỉ là khởi đầu nhỏ nhoi, tử mới là kéo dài bất tận. Tự cổ chí kim, bậc trung hiếu tiết nghĩa sẽ hóa thành linh quang bay lên Thiên đường, lưu lại tiếng thơm muôn đời. Còn kẻ bất nhân bất nghĩa thì linh hồn ô uế, chẳng thể kham nổi nhục hình nơi địa ngục”.

Qua một đoạn, lại thấy xa xa có một bánh xe lớn đang chuyển động, tọa phía trước là tòa lầu son gác tía, bên trong có bà lão đang tặng nước giải khát cho các cô hồn. Tôi nói: “Tôi thấy khát khô cả cổ họng, liệu có thể vào quán trà uống một ly rồi đi tiếp được chăng?”

Bạch Vô Thường cười nói: “Tiên sinh đừng uống, đó là canh mê hồn của Mạnh Bà, tiên sinh mà uống là đầu óc mơ mơ hồ hồ, quên hết sự đời. Âm hồn sau khi đã chịu thụ hình thì sẽ đến đây, uống bát canh Mạnh Bà rồi bước lên Đài Chuyển Kiếp. Các âm hồn tuy là cùng đi một chuyến xe Chuyển Kiếp, nhưng trạm dừng chân của mỗi người lại mỗi khác. Người lương thiện có thể đầu thai làm học giả, danh nhân, đại phú đại quý. Kẻ tội đồ thì chỉ có thể làm trâu ngựa, lợn gà, thậm chí thành côn trùng sâu bọ. Còn những người tu luyện hoặc bậc đại thiện đại đức thì không phải xuống địa ngục tối tăm này mà được lên thẳng Thiên đường, làm Tiên, Phật, Thánh, Thần ở các tầng trời khác nhau”.

Được một lát, Bạch Vô Thường nói tiếp: “Vậy là tiên sinh đã dạo một vòng thăm địa phủ, bây giờ mời tiên sinh vào điện Sâm La nghe Diêm Vương xử án”.

Diêm Vương xử án

Điện Sâm La nằm trong một tòa lầu nguy nga tráng lệ, trang hoàng sáng rực chứ không hề mờ mịt âm u như trong phim ảnh. Đi qua cánh cổng bạch ngọc là một hành lang dát vàng, dẫn vào phòng Thẩm Phán rộng thênh thang. Trước phòng Thẩm Phán có đôi câu đối:

“Thiên địa vô tình, thiện ác tự thụ

Càn khôn hữu tự, nhân quả vô lậu.”

Nghĩa là:

Thiên địa vô tình, làm việc thiện hay ác tự mình chịu

Càn khôn có trật tự, luật nhân quả không bỏ sót một ai.

Tranh lụa “Thiết sắc ngũ thất Diêm La Đại Vương” do Lục Tín Trung thời Nam Tống vẽ. (Ảnh: Tài sản công)

Bên trong, Diêm Vương điện hạ ngồi ở vị trí trung tâm, mặc áo bào đen viền đỏ, tay thêu hoa văn mây vàng, quan bào thêu hình sóng bạc, đầu đội vương miện khắc hình chim đại bàng, khí thế oai nghiêm như thần long, thần hổ. Sau lưng ngài có một bức tranh lớn, trên khắc hình thiên địa, tinh tú, nhật nguyệt và các tầng trời. Trên mây là Thần Phật hạ thế độ nhân, còn ở dưới là cảnh người thế gian đang với tay cầu cứu.

Hàng bên trái là sáu vị quan mặc áo bào thêu hình hổ, phụ trách ghi chép việc ác trong đời. Hàng bên phải là sáu vị quan mặc áo bào thêu hình rồng, phụ trách ghi chép việc thiện trong đời. Nhìn xuống hai bên là quỷ tướng, âm binh và các vị Thần như quan công, thổ địa, thành hoàng… Quả đúng là trên đầu ba thước có Thần linh!

Lúc này, Diêm Vương vẫn đang phân xử một vụ án còn dang dở. Vị quan sai giữ sổ âm tào đứng sau ngài nhìn thấy tôi, liền bước ra đón: “Cảm ơn tiên sinh đã chiếu cố đến đây. Đêm nay cõi U Minh có một vụ án đặc biệt, không chỉ làm rung chuyển âm tào mà còn kinh động lên cả Linh Tiêu thánh điện. Vậy nên Ngọc Hoàng đã cấp tốc ban chiếu chỉ, lệnh cho Diêm Vương phải xét xử, đồng thời cũng triệu một người trên dương gian xuống ghi chép lại những gì chứng kiến rồi mang biên bản này trở về trần thế làm chứng tích”.

Tôi nói: “Cảm ơn các vị quan sai đã ưu ái. Tôi tài hèn đức mỏng, không biết có kham nổi trọng trách này hay không?”

Quan sai cười nói: “Tiên sinh đừng quá lo lắng. Là vì kiếp trước tiên sinh từng giữ chức thư lại dưới âm tào, nên hôm nay mới mời tiên sinh đến đây. Tiên sinh chỉ cần ghi chép lại những điều tai nghe mắt thấy là được rồi”.

Dứt lời, quan sai liền dẫn tôi vào ngồi cạnh chiếc bàn nhỏ trong góc phòng, trên đó đã bày biện đủ cả bút lông, giấy lụa.

Được một lát, Diêm Vương liền hạ lệnh mời nguyên cáo. Vị quan sai đứng bên cạnh dõng dạc nói: “Mời Thánh Tâm tiên tử thăng đường!”

Cái tên “Thánh Tâm tiên tử” khiến tôi hiếu kỳ, cảm thấy vừa quen lại vừa lạ. Vị tiên tử bước lên điện chỉ là một bé gái chưa đầy 10 tuổi, toàn thân trong suốt như pha lê, chân như gót ngọc, xung quanh tỏa ra ánh hào quang dịu nhẹ. Thánh Tâm tiên tử mắt trong veo nhìn khắp phòng Thẩm Phán, trong tâm vẫn chưa hết lạ lẫm nên chỉ cúi đầu lặng thinh.

Vị quan sai bước lên bẩm báo: “Muôn tâu Diêm Vương điện hạ, đây chính là Thánh Tâm tiên tử, tiểu đồng hầu cận bên cạnh đức Quan Âm. Kiếp trước Thánh Tâm là người nước Việt ở Nam Thiệm Bộ Châu, đầu thai trong một gia đình khá giả, cha mẹ đều là tri thức, sống hạnh phúc ấm êm được nhiều người ngưỡng mộ. Chẳng may đến một năm can qua, tai họa ập đến, cha của Thánh Tâm uống phải rượu tình nên phạm tội tà dâm, vì nhân tình mà ruồng rẫy người vợ tào khang, để ả tình nhân thỏa sức làm mưa làm gió, bức tử vợ hiền, vùi dập con thơ. Thánh Tâm đã bị tước khỏi vòng tay mẹ, biến thành nơi trút giận cho ả nhân tình, ả đã hành hạ tiên tử hơn một năm trời. Sau khi tra tấn tiên tử đến chết, đôi gian phu dâm phụ không hề ăn năn hối cải mà còn dựng hiện trường giả, dối trên lừa dưới, khiến quỷ thần khắp trời đất đều phẫn nộ. Nay Thánh Tâm đã được Quan Âm đón về làm tiên đồng ở Nam Hải, nhưng vì có tâm tư chưa thể giải bày nên mới đến đây xin cầu kiến”.

Đoạn, Diêm Vương lại sai mang Gương Soi Ác Nghiệp đến, toàn bộ tội ác cùng với những bí mật động trời của đôi dâm phụ gian phu đều hiển rõ giữa công đường. Diêm Vương đập mạnh tay xuống bàn, lớn giọng nói: “Tội ác này trời không dung, đất không tha, chả trách đã làm rung chuyển cả điện Linh Tiêu. Hôm nay bản quan quyết sẽ không nương tay!”

Sau đó, Diêm Vương lại nhìn xuống tiên tử dưới công đường. Ngài nói: “Thánh Tâm, nỗi oan khiên của con, ta đã rõ. Kẻ hành ác tất sẽ phải đền tội, chỉ có điều dương thọ của chúng chưa hết, nên hiện nay vẫn còn ở trên nhân gian chịu quả báo, sau đó mới xuống âm tào của ta chịu thụ hình. Đến lúc ấy, bản quan sẽ lại mời con đến đây nghe ta phán quyết”.

Thánh Tâm tiên tử nhỏ nhẹ nói: “Thưa đức Diêm Vương, con đến đây không phải vì muốn đòi công lý, mà chỉ có hai nguyện vọng xin được Diêm Vương thành toàn cho…”.

Diêm Vương ngạc nhiên hỏi lại: “Không muốn đòi công lý sao? Từ xưa đến nay, ai đến đây gõ trống kêu oan cũng nằng nặc đòi báo thù cho bằng được. Con không muốn chúng phải chịu nhục hình, hoàn trả những gì đã gây ra cho con sao?”

Thánh Tâm tiên tử khẽ lắc đầu.

Diêm Vương hỏi tiếp: “Một kẻ người dưng đang tâm sát hại con, còn một kẻ là cha ruột nhưng lại nhắm mắt làm ngơ, để mặc con cho quỷ dữ lộng hành. Chẳng lẽ con không oán hận chút gì sao?”

Thánh Tâm tiên tử lại lắc đầu.

Diêm Vương thở dài: “Con không cần báo thù, cũng không oán hận, nhưng luật nhân quả không vì thế mà buông tha ai”.

Thánh Tâm tiên tử nói: “Quả thật con không oán hận. Những trận đòn roi của dì, những câu nói lạnh lùng của ba, rồi cả thái độ thờ ơ của nhà nội… con chưa từng oán trách, mà chỉ thấy đau lòng thôi”. 

Diêm Vương hỏi tiếp: “Ài, quả không hổ danh Thánh Tâm tiên tử! Tâm hồn con thuần khiết và thiện lương như vậy, thật xứng là tiểu đồng của đức Quan Âm! Thôi được rồi, hãy cho bản quan biết hai nguyện vọng kia của con là gì?”

Thánh Tâm tiên tử đáp: “Thưa, hơn một năm qua con chưa lúc nào ngừng nhớ thương mẹ và em, vậy nên nguyện vọng lớn nhất của con là Tết này được về thăm mẹ. Nhưng thân con đã thác, âm dương thì cách trở, xin Diêm Vương cho con biết: Liệu có cách nào giúp con thực hiện nguyện vọng này không?”

Diêm Vương ngập ngừng trong giây lát rồi nói: “Năm xưa Tề Thiên Đại Thánh cũng từng đến đây đòi bản quan phải hoàn dương cho những bậc trung nghĩa thác oan. Nhưng cần phải có thể xác thì mới làm vậy được. Nay thân con đã hóa tro tàn thì bản quan cũng đành bó tay bất lực. Thánh Tâm à, việc này hãy để ta bẩm báo lên đức Quan Âm, ngài có Pháp lực vô biên, có lẽ sẽ giúp được con. Được rồi, giờ hãy cho ta biết nguyện vọng thứ hai của con là gì?”

Thánh Tâm tiên tử nói: “Trải qua một cuộc bể dâu, con đã hiểu thế nào là biển khổ trần ai. Đến khi được nương nhờ Bồ Tát Quan Âm, con mới được đắm mình trong Phật Pháp. Nay nhìn lại chốn nhân gian xao động, con chỉ mong sao bi kịch này sẽ khép lại bằng một cái kết có hậu mà thôi”.

Diêm Vương hỏi lại: “Thế nào là cái kết có hậu?”

Thánh Tâm tiên tử đáp: “Con thấy cõi nhân gian tiếng oán than không dứt, oán hận không ngừng. Vậy nên con mong sao mỗi oan khiên sẽ không để lại oán hận, mà là bao dung; mỗi gia đình tan vỡ sẽ không phải chia đàn xẻ nghé, mà là gương vỡ lại lành; mỗi đứa trẻ thay cha đổi mẹ sẽ không phải sống trong cảnh mẹ ghẻ con chồng, mà là bánh đúc có xương; mỗi người mẹ kế sẽ không mang lòng lang dạ sói, mà là thức tỉnh; sau cuộc ly hôn mỗi đứa trẻ không bị gạt bên lề gia đình, mà là được yêu thương bảo vệ. Con mong sao từ nay về sau sẽ không còn bạn nhỏ nào bị mẹ ghẻ tra tấn đến chết, bị cha dượng đóng đinh lên đầu. Con mong sao sự ra đi của con sẽ để lại nụ cười thay vì nước mắt, để cái chết của một người làm thức tỉnh muôn người”.

Diêm Vương tấm tắc khen hay, gật đầu tán thưởng: “Từ xưa đến nay, những chuyện mẹ ghẻ con chồng như Tấm Cám hay Lọ Lem, cả đông lẫn tây đều có. Trải qua mấy ngàn năm đã để lại biết bao bi kịch đau buồn, đến nay vẫn còn làm lòng người nhức nhối. Ta tin câu chuyện của con sẽ là dấu chấm hết cho mọi khổ đau đọa lạc, để không còn bi kịch nào lấy nước mắt của thế nhân. Thánh Tâm à, tấm lòng con sẽ còn được truyền tụng mãi khắp nhân gian, không cần đến ta, mà chính thiện lượng của con đã đủ để cảm hóa được lòng người. Hãy tin lời ta!”

Thánh Tâm tiên tử mắt long lanh ngời sáng, môi rạng rỡ nụ cười, cúi đầu cảm tạ.

Rồi đức Diêm Vương nhìn khắp phòng Thẩm Phán và nói:

“Ta ngự điện Sâm La ngót nghét ngàn năm, thường thấy trần gian bụi đỏ cát đen bay mù mịt. Vẫn biết nhân thế là nơi thập ác bất xá, vậy mà chưa từng gặp vụ án nào tàn khốc như hôm nay. Nhìn xem Gương Soi Ác Nghiệp, hiểu được căn duyên, ta cứ ngỡ buổi xử án sẽ ngập tràn lời oán than phẫn nộ, bất bình thấu đất, khóc than thấu trời. Nào ngờ Thánh Tâm tiên tử lại có thể coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, thản thản đãng đãng, lòng đầy thứ tha, khiến quỷ Thần phải nghiêng mình cảm phục. 

Nhưng lưới trời lồng lộng, luật nhân quả đâu có chừa một ai. Cho dù có thể đổi trắng thay đen trên dương thế, thì khi dương thọ hết, xuống âm tào sẽ phải hoàn trả gấp bội phần. Đến lúc ấy thì chớ trách địa ngục tàn khốc, phán quan ta vô tình.

Nhìn lại chốn nhân gian luân thường đảo lộn, nam không trung nghĩa, nữ không tiết trinh, xã hội thì đồi bại, nghĩa lý thì tiêu tan. Vì cho rằng nhân quả là hão huyền, nên mới ngang nhiên hành ác, tạo nghiệp vô biên. Nhưng một kiếp nhân sinh ngắn ngủi làm sao, đừng đợi đến khi rơi vào địa ngục rồi mới nghĩ đến ‘quay đầu’. Nếu lúc sống chẳng tỉnh ngộ, đợi tới lúc toàn thây phủ bụi, thì có hối cũng không kịp nữa rồi”.

Dứt lời, Diêm Vương tiến đến phía góc phòng, nhìn thẳng vào mắt tôi và nói: “Tiên sinh, phiền ngài hãy đem những lời trên trở về và thay ta nhắn nhủ với thế nhân rằng: Dương gian tam thế, thương thiên hại lý đều do người. Âm tào địa phủ, từ xưa đến nay không buông tha một ai”.

Một cơn gió thổi qua khiến tôi rùng mình. Tôi ngẩng mặt lên và ngơ ngác nhìn quanh, định thần lại một lúc mới nhớ ra rằng hôm nay giao thừa, tôi lên chùa Tường Nguyên thắp một nén hương trầm. Vậy mà không rõ vì lý do gì tôi lại gục đầu xuống thiếp đi tự lúc nào. Nhìn lên, vẫn thấy trước mặt là bàn thờ với đầy đủ hương, hoa và lễ phẩm. Chính giữa bàn là bức ảnh Nguyễn Thái Vân An, đôi mắt sáng ngời long lanh đang nhìn tôi chăm chú…

Thảo Ngọc

Xem thêm: