Dinh dưỡng đóng một vai trò quan trọng đối với việc hỗ trợ miễn dịch và ngăn ngừa lây nhiễm virus. 

Một thông cáo báo chí vào ngày 24/02/2020 cho biết: “Trong một bài báo mang tính thuyết phục về Tiến bộ trong Bệnh tim mạch… Ông Mark McCarty của Quỹ Catalytic Longgetivy, San Diego, CA, USA, và James DiNicolantonio, PharmD, một nhà khoa học nghiên cứu tim mạch tại Viện Tim mạch Trung Mỹ của Saint Luke, Kansas City, MO, đề xuất rằng một số chất dinh dưỡng nhất định có thể giúp ích với những người bị nhiễm virus ARN như cúm và coronavirus.

Virus COVID-19 gây tử vong cao hơn khoảng 30 – 60 lần so với bệnh cúm thông thường hàng năm. Cả cúm và coronavirus đều gây ra một cơn bão viêm ở phổi và chính cơn bão viêm này dẫn đến suy hô hấp cấp tính, suy đa tạng và tử vong.

Một số chất dinh dưỡng nhất định có thể làm giảm viêm phổi do virus ARN. Trong khi những chất khác có thể giúp tăng phản ứng interferon type 1 đối với những virus này. Đây là cách chủ yếu mà cơ thể tạo ra các kháng thể để chống lại virus.

Ông McCarty và DiNicolantonio liệt kê một số chất dinh dưỡng có sẵn ở dạng bổ sung có thể có lợi ích trong việc chống lại COVID-19, bao gồm cả những chất được liệt kê dưới đây. Để biết thêm chi tiết về mỗi loại, hãy tham khảo bài báo toàn văn được xuất bản tại tạp chí Tiến bộ về Bệnh tim mạch:

  • N-acetylcysteine ​​(NAC): Giúp sản xuất glutathione, làm loãng đờm và chất tiết, giảm nguy cơ nhiễm cúm và giảm nguy cơ phát triển bệnh viêm phế quản nặng.
  • Chiết xuất quả cơm cháy: Có tác dụng rút ngắn thời gian mắc bệnh cúm xuống từ 2-4 ngày và giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh cúm. Theo các tác giả: “Vì quả cơm cháy là một nguồn dồi dào anthocyanin, nên có lý do để nghi ngờ rằng quả cơm cháy đã tác động gián tiếp đến virus một phần thông qua acid ferulic, một chất chuyển hóa nổi bật xuất hiện trong huyết tương sau khi tiêu thụ anthocyanin.”
  • Tảo xoắn: Làm giảm mức độ nghiêm trọng và tỷ lệ tử vong do cúm trong các nghiên cứu trên động vật. Trong một thử nghiệm trên người, tảo xoắn đã làm giảm đáng kể tải lượng virus ở những bệnh nhân nhiễm HIV. 
  • Beta-glucan: Giảm mức độ nghiêm trọng và tỷ lệ tử vong do cúm trong các nghiên cứu trên động vật.
  • Glucosamine: Điều chỉnh protein tín hiệu kháng virus trong ty thể (MAVS), làm giảm mức độ nghiêm trọng và tỷ lệ tử vong do cúm trong các nghiên cứu trên động vật. 
  • Selen: Ông McCarty và DiNicolantonio lưu ý rằng: “Vì selen là một đồng yếu tố cần thiết cho một số peroxidase nhất định và sự thiếu hụt selen đã trở thành đặc hữu ở một số vùng nhất định của Trung Quốc và các khu vực khác trên thế giới, việc đảm bảo cung cấp đủ selen cũng có thể thích hợp trong đại dịch này. Thiếu hụt selen cũng làm tăng tốc độ đột biến virus, kích thích tạo ra các chủng có khả năng gây bệnh và trốn tránh sự giám sát miễn dịch nhiều hơn.”
  • Kẽm: Hỗ trợ “chức năng và sự tăng sinh của các tế bào miễn dịch khác nhau”, giảm tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi xuống 27%. 
  • Acid lipoic: Giúp tăng cường phản ứng interferon type 1. Như đã giải thích trong một bài báo năm 2014: “Interferon type I (IFN) kích hoạt các chương trình kháng khuẩn nội bào và ảnh hưởng đến sự phát triển của các đáp ứng miễn dịch bẩm sinh và thích ứng… IFN là các polypeptid được tiết ra bởi các tế bào bị nhiễm bệnh và có ba chức năng chính: 
  • Đầu tiên, interferon tạo ra trạng thái kháng khuẩn nội bào trong các tế bào bị nhiễm và các tế bào lân cận để hạn chế sự lây lan của các tác nhân lây nhiễm, đặc biệt là virus. 
  • Thứ hai, interferon điều chỉnh cân bằng các phản ứng miễn dịch bẩm sinh giúp kích thích trình diện kháng nguyên và các chức năng của tế bào tiêu diệt tự nhiên trong khi hạn chế các con đường tiền viêm và sản xuất cytokine.
  • Thứ ba, interferon kích hoạt hệ thống miễn dịch thích ứng và tạo ra các đáp ứng của tế bào lympho B, T có ái lực cao và đặc hiệu với kháng nguyên cũng như trí nhớ miễn dịch. IFN type I giúp bảo vệ cơ thể trong các trường hợp nhiễm virus cấp tính, nhưng có thể có vai trò bảo vệ hoặc gây hại trong các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và các bệnh tự miễn dịch.”
  • Sulforaphane: Giúp tăng cường phản ứng interferon type 1

Một nghiên cứu năm 2005 trên Tạp chí Các bệnh truyền nhiễm cũng cho thấy resveratrol có khả năng ức chế sự nhân lên của virus cúm A và cải thiện đáng kể khả năng sống sót ở chuột bị nhiễm cúm. Theo các tác giả, resveratrol “hoạt động bằng cách ức chế chức năng của tế bào, thay vì virus”. Điều này cho thấy resveratrol “có thể là một loại thuốc chống cúm đặc biệt hiệu quả”.

Ăn thực phẩm giàu kẽm có thể giúp đảm bảo cơ thể ngăn ngừa nhiễm vi-rút nghiêm trọng. (Ảnh Evan Lorne/Shutterstock)

Liều dùng hàng ngày của các chất dinh dưỡng bổ sung

Các đề xuất tạm thời về liều lượng [của các chất bổ sung] hàng ngày do ông McCarty và DiNicolantonio đưa ra để giúp kiểm soát virus ARN, bao gồm cả bệnh cúm và coronavirus, như sau:

Chất dinh dưỡng Liều lượng
Acid ferulic  500 – 1,000mg 
Acid Lipoic 1,200 – 1,800mg (thay cho acid ferulic)
Tảo xoăn 15g
N-Acetylcystein 1,200 – 1,800mg
Selen 50 – 100mcg
Glucosamine 3,000mg hoặc nhiều hơn
Kẽm 30 – 50mg
Beta-glucan từ nấm men 250 – 500mg
Chiết xuất quả cơm cháy  600 – 1,500mg

Tầm quan trọng của việc tối ưu hóa vitamin D

Bức xạ tia cực tím mặt trời và vitamin D bổ sung cũng đã được chứng minh là làm giảm tỷ lệ tử vong trong đại dịch. Điều này cho thấy mức độ quan trọng của vitamin D đối với việc kiểm soát nhiễm trùng và giảm nguy cơ mắc bệnh cúm và cảm lạnh thông thường.

Nghiên cứu cho thấy bổ sung vitamin D liều cao làm giảm nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp và nhiễm trùng phổi ở người cao tuổi xuống 40%. Theo ghi nhận của một tác giả nghiên cứu: “Vitamin D có thể cải thiện khả năng chống lại nhiễm trùng của hệ miễn dịch bằng cách hỗ trợ tuyến phòng thủ đầu tiên của hệ miễn dịch”.

Một nghiên cứu được công bố vào năm 2009 chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong trong đại dịch cúm từ năm 1918-1919 bị ảnh hưởng theo mùa, với số lượng người chết trong mùa đông nhiều hơn mùa hè. Theo các tác giả:

“Những ca tử vong trong đại dịch cúm từ năm 1918 –1919 có liên quan đến cả virus cúm và bội nhiễm phổi do vi khuẩn. Dữ liệu về tỷ lệ tử vong ca bệnh và tỷ lệ phần trăm các trường hợp cúm phức tạp do viêm phổi có sẵn từ cuộc khảo sát 12 địa điểm tại Hoa Kỳ trong đại dịch 1918–1919.

Nghiên cứu này phân tích tỷ lệ tử vong ca bệnh và các trường hợp phức tạp do viêm phổi liên quan đến liều lượng tia cực tím B (UVB) mặt trời ước tính vào mùa hè và mùa đông, thể hiện ở các chỉ số về tình trạng vitamin D trung bình của quần thể.

Kết quả cho thấy mối tương quan đáng kể giữa liều lượng tia UVB tháng 7 với tỷ lệ tử vong và tỷ lệ viêm phổi (một biến chứng của bệnh cúm). Kết quả tương tự cũng được tìm thấy đối với tia UVB vào mùa đông. Vitamin D điều chỉnh việc sản xuất cathelicidin LL-37 ở người. Hợp chất này có cả tác dụng kháng khuẩn và chống độc tố.

Vitamin D cũng làm giảm sản xuất các cytokine tiền viêm. Điều này cũng có thể giải thích một số lợi ích của vitamin D khi virus cúm H1N1 gây ra một cơn bão cytokine.”

Theo hướng dẫn chung, bạn hãy kiểm tra mức vitamin D hai lần một năm, vào mùa đông và mùa hè, để đảm bảo mức vitamin D của bạn luôn ở trong mức tốt nhất từ 60 ng/mL đến 80 ng/mL. (Một nghiên cứu cho thấy 40 ng/mL là ngưỡng giới hạn bình thường ở người)

Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời thường xuyên là cách tự nhiên nhất để có đủ vitamin D. (Ảnh Jill Wellington/Pixabay)

Kiểm soát đường ruột

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, việc sử dụng prebiotics, probiotics và sporebiotics có thể mang lại hiệu quả điều trị đáng kể đối với COVID-19 giống như vi khuẩn Prevotella. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng men vi sinh chủng Bifidobacterium bifidum có thể giúp làm giảm Prevotella, trong khi các chủng Lactobacillus có xu hướng làm tăng số lượng vi khuẩn này.

Sporebiotics có thể đặc biệt có lợi. Chế phẩm sinh học này chứa thành tế bào của bào tử trực khuẩn, một lớp vỏ bảo vệ xung quanh ADN và bộ máy hoạt động của ADN chứ không phải toàn bộ vi khuẩn sống.

Bào tử Bacillus đã được chứng minh là làm tăng đáng kể khả năng dung nạp miễn dịch. Điều này có nghĩa là các bào tử Bacillus giúp sửa chữa những tổn thương trong hàng rào đường ruột của bạn. Vì bào tử không phải “vi khuẩn sống” nên cũng sẽ không bị ảnh hưởng bởi thuốc kháng sinh.

Trực khuẩn giúp điều hòa hiệu quả các cytokine: tăng các cytokine chống viêm trong khi làm giảm các cytokine gây viêm, từ đó khôi phục sự cân bằng giữa hai loại này.

Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các bào tử vi khuẩn giúp kích thích acidophilus, bifidus và các vi khuẩn khác trong đường ruột sinh sản mạnh mẽ. Và chỉ bào tử trực khuẩn mới có khả năng này. Probiotic thông thường chủ yếu có tác dụng nhờ chính bản thân nó. Mặt khác, bào tử Bacillus cũng thực sự làm tăng số lượng nhiều lợi khuẩn khác.

Bào tử Bacillus cũng tạo ra 24 chất khác nhau có đặc tính kháng khuẩn mạnh. Tuy nhiên, bào tử này không giết chết vi khuẩn bừa bãi như các loại thuốc kháng sinh. Đặc biệt, bào tử Bacillus có thể ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho toàn bộ cơ thể.

Thực hiện các phương pháp hỗ trợ miễn dịch là một chiến lược khôn ngoan để bảo vệ bạn chống lại bệnh tật. Vì một hệ miễn dịch khỏe mạnh sẽ là tấm chắn hiệu quả số 1 trong việc chống lại tất cả các loại nhiễm trùng, bao gồm cả virus và vi khuẩn. Các chất dinh dưỡng được thảo luận ở trên sẽ là công cụ hữu ích giúp bạn làm được điều đó. 

Tiến sĩ Joseph Mercola là người sáng lập Mercola.com. Một bác sĩ chấn thương chỉnh hình và là tác giả có nhiều sách bán chạy nhất, nhận nhiều giải thưởng trong lĩnh vực sức khỏe tự nhiên. Tầm nhìn cốt lõi của ông là thay đổi mô hình y tế hiện đại bằng cách cung cấp cho mọi người nguồn tài nguyên quý giá để giúp họ kiểm soát sức khỏe của mình.

Thiên Vân biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc tại The Epoch Times

Xem thêm: